Một anh chàng từ nông thôn ra thành phố xin được làm chân bán hàng tại cửa hàng bách hoá trung tâm, nơi đáp ứng mọi nhu cầu mua sắm trên đời.

Ông chủ hỏi anh ta:

- Anh đã có kinh nghiệm trong công việc này chưa?

- Rồi, thưa ông! Tôi từng bán hàng ở quê - Chàng trai đáp.

- Tốt! Cậu sẽ bắt đầu thử việc vào ngày mai và tôi sẽ đến kiểm tra kết quả công việc sau khi hết giờ làm - Ông chủ nói.
Với chàng trai, ngày làm việc đầu tiên dài đằng đẵng và thật căng thẳng nhưng mãi rồi cũng tới 5 giờ chiều. Ông chủ xuất hiện và hỏi:

 Người bán hàng siêu đẳng

- Hôm nay cậu phục vụ được bao nhiêu khách hàng?

- Một - Nhân viên bán hàng mới đáp.

- Mỗi một thôi à! - Ông chủ nổi giận - Hàng ngày, mỗi nhân viên của tôi phục vụ được 20 đến 30 khách hàng kia! Thế cậu bán được bao nhiêu tiền?

- Ba trăm nghìn đô la, thưa ông.

- Thế quái nào mà cậu bán được nhiều như vậy? - Ông chủ ngạc nhiên.

Chàng trai giải thích:

- Ông khách đó vào cửa hàng và tôi bán cho ông ta một lưỡi câu nhỏ, rồi một lưỡi câu vừa và cuối cùng là một lưỡi câu cỡ đại. Tiếp đó, tôi bán cho ông ta một sợi dây câu nhỏ, một sợi vừa và một sợi lớn. Tôi hỏi xem ông ta câu cá ở đâu và vị khách đáp: "Ở bờ biển". Tôi gợi ý ông ta nên mua một chiếc xuồng câu rồi đưa ông tới bộ phận bán thuyền, thuyết phục ông mua một xuồng cao tốc dài 7 mét gắn 2 động cơ. Chiếc Wolkswagen của ông ấy không kéo nổi cái xuồng nên tôi bán cho ông một chiếc Cruiser Deluxe nữa.

Ông chủ loạng choạng vì choáng:

- Cậu bán tất cả những thứ đó cho một người vào mua lưỡi câu?

- Không! - Chàng trai đáp - Ông ta hỏi mua băng vệ sinh cho vợ, và tôi bảo: "Kỳ nghỉ cuối tuần của ông thế là hỏng rồi. Có lẽ là ông nên đi câu cá!".

(Sưu tầm)
Cách tạo ra ấn tượng tốt cho khách hàng
Trường hợp ứng dụng thích hợp

Lần đầu tiên có thể tạo ra ấn tượng tốt hay không là điều rất quan trọng trong giao tiếp với khách hàng. Làm thế nào để có thể tạo ra ấn tượng tốt đầu tiên cho khách hàng, xin xem chi tiết sau đây.

Miêu tả chi tiết

Ăn mặc lịch sự

Đối với nhân viên marketing, tác dụng của việc ăn mặc lịch sự cũng giống như tác dụng của một nhãn hiệu đẹp mắt của sản phẩm. Trong lần đầu gặp mặt với khách hàng, nếu bạn ăn mặc tuỳ tiện, lôi thôi, khách hàng gặp bạn sẽ có thể mất đi những ấn tượng tốt đẹp trước đây mà họ có được về bạn qua điện thoại hoặc email. Ăn mặc lịch sự không có nghĩa là yêu cầu tất cả nhân viên marketing đều phải ăn mặc đẹp đẽ và rực rỡ. Trên thực tế, trang phục đẹp đẽ và rực rỡ chưa chắc đã thìch hợp với mọi người, mọi trường hợp mà còn có thể làm cho khách hàng không đồng tình. Một nhân viên marketing chuyên nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm ngành nghề của mình để lựa chọn trang phục thích hợp. Trong lúc lựa chọn, nhân viên marketing cần phải chú ý một điều là, bất cứ bộ trang phục nào cũng đều phải gọn gàng, sạch sẽ và giản dị, màu sắc hài hoà, hợp lý, tuyệt đối không nên theo đuổi mốt mới có thể làm cho cách ăn mặc của mình trở nên kì quặc.

Cử chỉ đàng hoàng, thái độ bình tĩnh và vững vàng

Nếu nói ăn mặc lịch sự thể hiện cái đẹp bề ngoài của nhân viên marketing, thì cử chỉ đàng hoàng, thái độ bình tĩnh và vững vàng sẽ thể hiện phẩm chất con người của nhân viên marketing. Trên thực tế, phẩm chất con người của nhân viên marketing sẽ đại diện cho chất lượng và đẳng cấp của sản phẩm. Mọi cử chỉ của nhân viên marketing đều sẽ tạo cho khách hàng một ấn tượng, nó sẽ tác động tới sự nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm cũng như công ty.

Giữ vững sự tự tin, cương, nhu đúng lúc

Áp dụng những phương pháp sau có thể làm cho khách hàng cảm nhận được sự tự tin của bạn.

Trước khi đi gặp khách hàng, bạn nên cố tỏ ra bản thân mình có một thái độ lạc quan và tích cực.

Coi sự giao lưu với khách hàng là một hoạt động vui vẻ.

Giữ giọng nói ôn hoà, không nên ví vội vã mà nói không rõ.

Nói chuyện phải rõ ràng và có trọng lượng, trước khi nói phải cân nhắc kĩ ngôn từ.

Không nên nhìn ngó lung tung, cũng không nên có những động tác tuỳ tiện, cần phải giữ tư thế ngồi đàng hoàng, nhìn thẳng mắt của khách hàng một cách chân thành.

Đưa ra lời mở đầu tốt đẹp

Lời mở đầu tốt đẹp không chỉ có thể mang lại sự kính trọng của khách hàng, mà còn có thể làm cho khách hàng hào hứng về những câu nói tiếp theo của bạn. Đối với nhân viên marketing, trong quá trình giao lưu với khách hàng, một lời mở đầu tốt đẹp có thể xây dựng cho bạn một cơ sở vững chắc trong quá trình xúc tiến công việc tiếp theo.

Trình bày rõ ràng quan điểm của bạn

Trong cuộc gặp mặt lần đầu với khách hàng, vì những lý do căng thẳng, chẳng hạn nhân viên marketing có thể quá sốt sắng muốn trình bày rõ ý đồ của mình mà coi thường hình thức biểu đạt. Rất nhiều nhân viên marketing có kinh nghiệm cho biết: càng sốt ruột để biểu đạt ý đồ của mình hay cân nhắc ngôn từ càng có nhiều sai lầm, rốt cuộc, việc giao lưu với khách hàng sẽ càng khó khăn hơn do tạo ra những ấn tượng không tốt cho khách hàng. Thông thường, khách hàng sẽ cho rằng, một người mà không thể tỏ rõ ý định của mình sẽ không thể hiểu được nhu cầu thật sự cần của khách hàng, công ty mà họ đại diện có thể cũng thiếu tính tổ chức và tính hệ thống một cách khoa học.

Đánh giá sản phẩm của bạn một cách tích cực và lạc quan

Giới thiệu sản phẩm của công ty, nhân viên marketing nên chú ý một số điều sau đây:

Không nên sử dụng quá nhiều thuật ngữ chuyên ngành khiến khách hàng khó hiểu.

Không nên cường điệu về tác dụng và ưu thế của sản phẩm.

Giới thiệu sản phẩm phải nhằm vào nhu cầu thực tế của khách hàng, nắm lấy tâm lý của khách hàng, và làm cho khách hàng cảm nhận rằng, nhu cầu của họ chính là điều quan tâm nhất trong công việc của bạn.

Quan sát phản ứng của khách hàng, nên dừng ngay những thông tin mà khách hàng không hứng thú.

Nếu khách hàng chỉ ra những khuyết điểm mà sản phẩm có thật, đừng che giấu, không thể không quan tâm, mà phải có phản ứng tích cực. Ví dụ, nếu khách hàng chỉ ra chức năng của sản phẩm không đầy đủ như sản phẩm khác nào đó, đầu tiên bạn có thể khẳng định trước ý kiến của khách hàng rồi nói ra những ưu thế khác của sản phẩm mình: “thưa vâng, chính như thế những chức năng khác mới có thể phát huy đầy đủ tác dụng của nó, và giá cả của nó so với những sản phẩm khác cùng loại thấp hơn 20%”

Làm thế nào để tạo ấn tượng tốt đầu tiên với khách hàng?

1. Trong lúc hẹn gặp mặt với khách hàng, bạn nên chuẩn bị trước mọi phương diện như thái độ, kiến thức, kể cả cử chỉ và lời nói.

2. Không được coi thường tính quan trọng của ấn tượng đầu tiên đối với công việc giao lưu với khách hàng tiếp theo.

3. Bất cứ là giới thiệu bản thân hay là sản phẩm, bạn đều phải rõ ràng, khách quan và luôn giữ tự tin.

4. Tranh thủ trong thời gian ngắn nhất để thuyết phục khách hàng, tuyệt đối không được nói những chuyện linh tinh làm cho khách hàng cảm thấy nhàm chán.

5. Đối với bất cứ nghi ngờ nào của khách hàng bạn đều phải phản ứng tích cực mà không nên bỏ qua nó một cách dễ dàng.

Những "công cụ quyền lực" của marketing
Tiến sĩ Stephen R. Covey, một trong những thiên tài thế giới về tư duy sống, đã qua đời ngày 16/7/2012. Tác phẩm được nhận biết rộng rãi nhất của ông là "7 thói quen của người thành đạt" (7 habits of Highly Effective People), một trong những cuốn sách kinh điển về hoàn thiện bản thân đã được dịch ra 38 ngôn ngữ khác nhau với 25 triệu bản sách trên toàn cầu.

Đây chính là tác phẩm nền tảng, đưa Stephen R. Covey trở thành một trong 25 người Mỹ có ảnh hưởng nhất năm 1996 do tạp chí Time bình chọn. “7 thói quen của người thành đạt” sẽ trở thành một công cụ quyền lực nếu được áp dụng vào quản trị marketing. Hãy cùng phân tích:

1. Chủ động - Be Proactive

Chủ động là một thói quen quan trọng của bất cứ một người thành đạt nào. Người chủ động sẵn sàng ra quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Không chờ đợi. Không chần chừ. Không đổ lỗi. Không né tránh.

Trong cuộc chiến marketing, doanh nghiệp nào chủ động sẽ có khả năng thành công. Những doanh nghiệp chưa ở vị trí hàng đầu có thể chủ động trong cuộc chiến với doanh nghiệp đứng đầu. Như Pepsi có thể hoàn toàn nghiên cứu ra những điểm yếu của ông lớn Coca Cola trước khi tung ra chiến lược của mình, đó là chiến lược đối lập.

Coca Cola mang tính “cổ điển”, “nguyên bản” thì Pepsi tung ra tính “trẻ trung”, “phá cách”. Màu sắc của Coca Cola là “đỏ” thì Pepsi tạo bản sắc cho mình bằng màu “xanh lơ”. Coca Cola yên vị với “hương vị nguyên bản” của mình thì Pepsi thách thức bằng hàng loạt những cuộc thử mù - blind test minh chứng rằng “hương vị cải tiến” của mình ngon hơn.

Kết quả là đã có những thời điểm Coca Cola bị Pepsi vượt mặt. Tuy nhiên Coca Cola cũng nhanh chóng chủ động phòng thủ, bao chắc quanh lãnh địa của mình bằng sự tập trung cao độ. Trong khi đó Pepsi tản mát hơn (sở hữu thêm cả chuỗi KFC, Pizza Hut v.v…) và do đó Coca Cola vẫn giữ nguyên vị trí hàng đầu của mình.

Dẫu sao, tính chủ động đã mang lại cho Pepsi vị trí số 2 của thị phần nước uống cola. Một kết quả không tệ.

Mới đây có bài báo đặt ra nghi ngờ: “Liệu TH True Milk có qua mặt được Vinamilk vào năm 2015”. Có lẽ những cuộc tấn công đầy chủ động của Pepsi nhằm vào Coca Cola sẽ gợi ý cho TH True Milk nhiều ý tưởng hiệu quả.

2. Bắt đầu với kết quả trong tâm tưởng - Begin with the End in Mind

Hãy tự mường tượng mình đã trở thành mẫu người mà mình mong muốn, khi đó cần phải có những giá trị sống như thế nào, mục tiêu ra sao. Hành động với chính những giá trị và mục tiêu đó, ta sẽ viết ra những tính cách cần thiết để tạo nên thành quả trong cuộc sống sau này.

Điều quan trọng nhất của một chiến lược marketing là gì? Đó chính là đặt ra mục tiêu cần phải đạt được. Mục tiêu càng rõ ràng về vị thế của doanh nghiệp trong tương lai, doanh nghiệp sẽ càng dễ dàng trong việc tạo nên tính cách cho thương hiệu, lựa chọn triết lý kinh doanh và những công cụ marketing phù hợp. Đây tưởng như là một điều dễ nhưng thực tế không phải vậy. Hãy xem qua thử một vài slogan của một số công ty nổi tiếng:

Canon: "Biết làm thế nào - Know how". Có thể câu slogan này hàm ý Canon biết cách làm thế nào. Tuy nhiên đơn giản đây là một câu slogan không có mục tiêu cụ thể, không nêu bật được tính cách của thương hiệu và có lẽ sẽ làm chính nhân viên của Canon phải bối rối khi khách hàng hỏi: “Biết làm thế nào” là thế nào?

Nissan: "Enjoy the ride – Tận hưởng chuyến đi”. Mục tiêu của một chiến lược marketing phải là đặt thương hiệu của mình khác biệt với thương hiệu khác và nêu ra được sự nổi trội về một đặt tính ưu việt của mình so với các đối thủ trên thị trường. “Tận hưởng chuyến đi” quá chung chung và thiếu hiệu quả.

Có mục tiêu rồi, doanh nghiệp sẽ đi đúng hướng hơn. Khi đó, doanh nghiệp cần phải có sự tập trung. Điều này không phải đơn giản. Một trong những thương hiệu Việt Nam gây nhiều sự chú ý gần đây là Kangaroo với tầm nhìn: “Số 1 Châu Á về doanh số hàng gia dụng và thiết bị vệ sinh an toàn trong gia đình”.

Những "công cụ quyền lực" của marketing
Thế nhưng Kangaroo công bố sản phẩm Kangaroo Mobile. Ai có thể chỉ ra sự liên hệ giữa “điện thoại di động” và “hàng gia dụng và thiết bị vệ sinh an toàn trong gia đình”?

3. Làm việc quan trọng trước - Put First Things First

Trong cuộc sống, người có khả năng lọc ra được những công việc quan trọng nhất đối với mục đích cuối cùng của mình và thực hiện những công việc đó trước sẽ là những người có thành tích cao hơn.

Chúng ta đều thấy có những người thành đạt nhưng nhàn nhã và có những người không thành đạt nhưng lúc nào cũng bận rộn. Ai cũng chỉ có 24 tiếng mỗi ngày. Người thành đạt hơn là những người biết dành thời gian cho những công việc quan trọng trước.

Điều quan trọng cần phải làm đầu tiên trong một chiến dịch marketing phải là tìm ra một đặc tính ưu việt và chiếm hữu nó trong tâm trí khách hàng. Như đậu phộng bọc socola M&M's: “Tan chảy trong miệng, không tan chảy trên tay”. Đó là một điểm nhấn tốt. Nhưng không phải chiến lược marketing nào cũng làm được điều này.

Hãy xem thử chiến dịch “Luôn luôn - Always” của Coca Cola với hàng trăm triệu USD quảng cáo. Mọi người có “luôn luôn” uống Coca Cola? Kể cả có Coca Cola, người ta vẫn sẵn sàng uống Pepsi. “Luôn luôn” là một giấc mơ không có thực.

“Chúng tôi biết tại sao bạn bay – We know why you fly” của American Airlines cũng là một chiến dịch tự đại và có phần hoang tưởng giống như chiến dịch “Luôn luôn” của Coca Cola. Đơn giản là con người có đến hàng trăm ngàn lý do để bay. Làm sao American Airlines biết được?

Slogan “Tin cậy. Bền vững” của Ngân hàng Quân đội có lẽ đó nên là slogan của một công ty xây dựng hơn là một tổ chức tín dụng.

4. Tư duy cùng thắng - Think Win-Win

Tư duy “cùng thắng” là đặc điểm quan trọng của một người thành công.

Tìm ra điểm tạo nên sự hài lòng cho cả đôi bên sẽ gây dựng nên quan hệ tốt. Quan hệ một bên được lợi, một bên thiệt thòi sẽ không thể duy trì trong thời gian dài.

Tư duy cùng thắng phát huy tối đa khi doanh nghiệp gặp phải khủng hoảng thông tin. McDonald’s từng gặp phải rắc rối khi bị phát hiện ra những chiếc cốc vẽ hình Shrek có thể đã dùng loại sơn có hại cho sức khỏe. Mặc dù Ủy ban Kiểm nghiệm An toàn của Mỹ đã thông báo: “Loại sơn đó không độc và không gây hại cho trẻ em và thiệt hại khách hàng phải chịu là rất thấp”.

Nhiều công ty trong trường hợp này có lẽ sẽ dùng tuyên bố của cơ quan quản lý để tấn công lại những người đã chỉ trích. Nhưng McDonald’s đã xử lý theo “tư duy cùng thắng”.

Công ty cho khách hàng có thể đem trả lại cốc và lấy lại tiền. Dĩ nhiên chẳng mấy khách hàng quay lại đổi (vì cơ quan kiểm định đã bảo cốc không gây hại). Kết quả là khách hàng có được sự hài lòng còn McDonald’s thì có thêm uy tín.

Một trường hợp khá giống xảy ra vài năm trước trên webtretho.com khi một bà mẹ kiểm nghiệm và cho thấy kết quả canxi của Enfagrow A+ của Mead Johnson không đúng tiêu chuẩn. Mead Johnson đã làm gì? Dọa kiện khách hàng!

Theo bạn, “Tư duy cùng thắng” và tư duy “Tôi thắng, anh thua” cái nào sẽ hiệu quả hơn trong trường hợp này?

5. Hiểu người trước khi mong được hiểu - Seek First to Understand, Then to be Understood

Chúng ta có một cái miệng và hai cái tai. Cần phải lắng nghe nhiều hơn để hiểu người khách hơn rồi mới mong được người khác thấu hiểu. Đó là thói quen quan trọng bậc nhất và cũng là thói quen thường bị chúng ta bỏ qua nhiều nhất.

Nếu như theo một quy trình chuẩn mực, marketing được tham gia vào từng phần của dịch vụ bao gồm: nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng từ đó tham gia góp ý vào việc định hình sản phẩm, tạo nhãn hiệu sản phẩm, tìm kênh phân phối tối ưu ra thị trường, sử dụng các chương trình quảng cáo và chiến dịch marketing nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.

Thực tế cho thấy phần lớn hoạt động marketing hiện nay chỉ dừng lại ở việc “tạo nhãn hiệu sản phẩm, tìm kênh phân phối tối ưu ra thị trường, sử dụng các chương trình quảng cáo và chiến dịch marketing nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dùng”.

Đây là một thiếu sót. Bởi quá trình “nghiên cứu” chính là quá trình “hiểu người trước”. Phải làm được điều này tốt thì mới mong “đưa sản phẩm đến người tiêu dùng” hay “mong người khác hiểu mình”.

Thiếu khả năng “hiểu người khác” khiến thị trường từng xuất hiện nhiều sản phẩm kỳ lạ như kem dành cho chó Frost and Hound của hãng Wagg Foods. Các chú chó có thể thích nhưng người bỏ tiền ra mua kem là những ông chủ/bà chủ của chó lại không thích.

Hay như thuốc lá không khói RJ Reynolds. Sản phẩm có ý tưởng độc đáo. Tuy nhiên người hút thuốc lá thích cảm giác được nhìn thấy làn khói bay vương vất ra khỏi điếu thuốc lá.

Cả hai sản phẩm đều không đi đến đâu do không thực hiện nguyên tắc “Cần hiểu người trước khi mong được hiểu”.

Những "công cụ quyền lực" của marketing
6. Hợp lực - Synergize

Trong một thế giới tương tác như hiện nay, nếu không có được sự hợp lực với mọi người, bạn không thể thành công. Điều này cũng đúng hoàn toàn với một chiến dịch marketing.

Thế giới marketing có vô số những ý tưởng lý thú, nếu triển khai tốt thì hoàn toàn tạo nên được những thành công lớn. Tuy nhiên ý tưởng không thôi sẽ không đi đến đâu nếu thiếu sự hợp lực từ các bộ phận khác.

Một chương trình marketing dựa trên một sản phẩm kém sẽ thất bại.

Một chương trình marketing mà không có hệ thống phân phối sản phẩm tốt đến người tiêu dùng sẽ thất bại.

Một chương trình marketing thiếu đội ngũ những người bán hàng và chăm sóc khách hàng tốt sẽ thất bại.

Một công ty không có được sự hợp lực cần thiết giữa các bộ phận sản xuất, phân phối, marketing và bán hàng sẽ vật lộn trong khó khăn.

Chỉ có sự hợp lực của tất cả các bộ phận mới tạo nên được một doanh nghiệp vững mạnh.

7. Rèn luyện kỹ năng - Sharpen the Saw

Để thành đạt trong một thế giới thay đổi chóng mặt, con người phải liên tục rèn luyện, học thêm những kỹ năng mới, mài sắc lại những kỹ năng cũ để hoàn thiện mình hơn. Đây là một thói quen mà nhiều công ty không làm được, trong số đó có cả những "ông lớn" trên thế giới.

Kodak là công ty phát minh ra kỹ thuật máy ảnh số. Nhưng lúc đó công ty đang có nguồn lợi khổng lồ từ máy ảnh phim. Công ty không chịu thay đổi và rốt cuộc phải đệ đơn phá sản.

Bao nhiêu công ty sản xuất đài cassette đã từng tồn tại? Chúng đều đã biến mất khi ngành công nghiệp băng đĩa cassette bị làn sóng đĩa hát đẩy lùi. Thậm chí ngành công nghiệp băng đĩa nhạc giờ cũng đang đối mặt với khó khăn lớn khi bây giờ con người ngày càng có xu hướng tải nhạc và mua nhạc trực tiếp trên mạng.

Biết bao công ty vẫn áp dụng mô hình marketing mix 4 P: Sản phẩm, Giá cả, Địa điểm, Con người - Product, Price, Place, People, trong khi thế giới marketing giờ đã cách quá xa mô thức đó rồi!

Hãy đơn giản hỏi xem “Nhà sách lớn nhất thế giới” Amazon có yếu tố “Địa điểm” trong marketing mix hay không? Và người tiêu dùng có quan tâm đến “địa điểm” của Amazon hay không? Trong trường hợp yếu tố “Địa điểm - Place” không còn quan trọng. có lẽ mô hình 4P cần phải được xem lại.

Nếu để chọn ra một câu nói đắt giá nhất trong quyển “7 thói quen của người thành đạt” áp dụng trong kinh doanh, tôi sẽ chọn: “Quản trị là leo lên nấc thang thành công một cách hiệu quả. Lãnh đạo là việc quyết định chiếc thang sẽ đặt lên bức tường chuẩn xác" -"Management is efficiency in climbing the ladder of success; leadership determines whether the ladder is leaning against the right wall”. Câu nói bất hủ dành cho bất cứ nhà quản trị marketing nào muốn gặt hái thành công.

Xây dựng những mối quan hệ công chúng cho công ty của bạn luôn là yêu cầu đặt ra vào bất cứ thời điểm nào. Nhiều công ty rất muốn thực hiện thành công các chiến dịch PR (Public Realation), nhưng họ không biết phải khởi đầu từ đâu và triển khai như thế nào?

Ngày thứ nhất: Xác định rõ mục tiêu của bạn

Bạn hãy khởi đầu bằng việc lên danh sách những mối giao tế công cộng trong thị trường mục tiêu của bạn. Những mối giao tế này phần lớn là với các tạp chí như tạp chí hàng tuần, báo ngày, tạp chí chuyên ngành kinh doanh, những nhà quảng cáo miễn phí tại địa phương, hay các tạp chí của Phòng thương mại khu vực. Bạn không cần thiết phải liên lạc với các cơ quan báo chí quốc gia trừ khi câu chuyện PR của bạn thật sự nổi bật trên phạm vi toàn quốc hay bạn có một mối quan hệ mật thiết nào đó với cơ quan báo chí quốc gia. Tiếp theo, bạn hãy lên danh sách những đài phát thanh truyền hình tại khu vực thị trường mục tiêu của bạn. Những đài này bao gồm đài AM, FM, đài phát thanh phổ thông, đài phát thanh của trường đại học, …, và nhìn chung là tất cả.

Ngày thứ hai: Lập cơ sở dữ liệu các số điện thoại, địa chỉ liên lạc của các tạp chí, đài phát thanh truyền hình mà bạn xác định trong ngày thứ nhất.

Đối với một mối quan hệ giao tế công cộng, bạn cần xác định đâu là cách thức thông báo hay những thông tin đăng tải phù hợp nhất. Một khi bạn hoàn thành được công việc này, bạn hãy tìm ra ai là chủ bút hay phóng viên chịu trách nhiệm chính cũng như đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực mà bạn cần giao tế tại các tạp chí và đài phát thanh truyền hình. Đôi khi họ là một chủ bút của một chuyên mục nào đó, một phóng viên chuyên viết một lĩnh vực nhất định, một phóng viên đặc trách, hay một biên tập viên quản lý. Đừng gửi bản thông cáo báo chí của bạn tới bất kỳ ai hay tới tất cả mọi người trong tạp chí. Tiếp theo, bạn tiến hành những công việc tương tự đối với các đài phát thanh truyền hình: Tìm ra người phù hợp với các thông cáo báo chí của bạn tại đây như cán bộ chuyên phân công mảng tin tức cho các phóng viên phụ trách, hay biên tập viên mảng tin tức,…

Ngày thứ ba: Xác định câu chuyện PR nào mà bạn sẽ truyền đạt



Hãy suy nghĩ kỹ lưỡng về những chủ đề PR. Bạn đang đưa ra một thông cáo báo chí, truyền đạt một sự thay đổi, trình bày diễn giải một ý kiến hay công bố một khám phá mới? Bạn có một quan điểm bản địa trong một câu chuyện mang tính quốc gia hay không? Liệu thông tin của bạn có đáng để lên báo chí và không mang trong mình một thành kiến cục bộ không? Tất cả những gì bạn cần là 12 chủ đề PR khác nhau, tính trung bình là cứ một tháng có một thông cáo báo chí trải dài trong thời gian một năm. Tuy nhiên, đừng để điều này bó buộc việc bạn thường xuyên đưa ra những thông tin mới khi nó xuất hiện hay công bố những thông cáo mang tính cập nhập.

Ngày thứ tư: Viết bản thông cáo báo chí thực sự

Chủ bút của các tạp chí thường yêu thích những người nói theo ngôn ngữ của họ. Bản thông cáo báo chí dài một trang được mở đầu với ai, cái gì, ở đâu, khi nào và tại sao sẽ phù hợp hơn với các chủ bút, qua đó bản thông cáo báo chí của bạn càng có nhiều cơ hội xuất hiện một cách nhanh chóng trên tạp chí. Bản thông cáo báo chí nên bao gồm một vài thông tin cơ bản, trích dẫn lời của một cá nhân có uy tín trong một tổ chức nào đấy và địa chỉ liên hệ của công ty bạn. Đó là tất cả những “chất liệu” cần thiết hình thành nên một bản thông cáo báo chí. Bản thông cáo này không cần phải dài như bản luận văn, cũng như không cần thiết phải có những thông tin đơn lẻ, đi sâu vào tiểu tiết. Nếu chủ bút muốn thêm những thông tin cho câu chuyện, họ sẽ gọi điện cho bạn để bổ sung.

Ngày thứ năm: Gửi bản thông cáo báo chí tới các tạp chí, đài phát thanh truyền hình trong cơ sở dữ liệu mà bạn đã lập vào ngày thứ hai

Một vài chủ bút thích những bản thông cáo báo chí được gửi bằng fax, trong khi đó một xu hướng đang phát triển hiện này là gửi bản thông cáo báo chí qua email. Rất hiếm khi các bản thông cáo báo chí được gửi bằng thư tín thông thường; tuy nhiên, trong một vài trường hợp việc gửi bằng thư tin thông thường là cần thiết nếu bản thông cáo báo chí của bạn có kèm theo một vài bức ảnh. Bạn hãy tìm ra cách thức mà các chủ bút, phóng viên và nhà sản xuất ưa thích nhận bản thông cáo báo chí của bạn, bởi nếu vậy thì cơ hội xuất hiện nhanh chóng trên các tạp chí, đài phát thanh truyền hình sẽ lớn hơn rất nhiều.

Ngày thứ sáu: Sử dụng bản thông cáo báo chí cho những việc khác

Thông thường bản thông cáo báo chí không được đăng tải toàn bộ, các chủ bút sẽ biên tập lại chúng, cắt đi những phần không cần thiết, cũng như không phải tạp chí nào cũng đăng tải bản thông cáo báo chí của bạn. Đừng để việc này khiến bạn dừng đăng tải bản thông cáo và cố gắng đưa nó ra với công chúng. Có một số công việc khác bạn có thể thực hiện với những bản thông cáo báo chí. Bạn có thể đăng tải chúng trên trang web của mình. Bạn có thể sử dụng chúng trong các direct-mail gửi tới khách hàng. Bạn có thể sử dụng chúng trong hộp thư trả lời điện thoại lúc đường dây bận,… Sử dụng những thông tin của bạn ở bất kỳ đâu có thể, và bạn sẽ ngạc nhiên với những kết quả bất ngờ mà bạn có được, qua đó hình ảnh công ty bạn sẽ ngày một phổ biến hơn trong công chúng.

Ngày thứ bảy: Tiếp tục những nỗ lực của bạn nhằm thiết lập mối quan hệ gần gũi hơn với các chủ bút, phóng viên và nhà sản xuất chương trình truyền hình

Mối quan hệ giữa bạn và các cơ quan báo chí truyền hình càng gần gũi bao nhiêu, bạn càng có khả năng tiếp cận công chúng dễ dàng bấy nhiêu. Thời điểm để thực hiện công việc này không phải là khi bạn có một câu chuyện “sốt dẻo”. Hãy tận dụng mọi thời gian có thể nhằm tạo dựng những mối quan hệ thân thiết nhất. Nhờ đó, sau này bất cứ khi nào bạn có một tin tức “sốt dẻo” hay một câu chuyện hấp dẫn, bạn sẽ biết ngay ai là người mà bạn cần tiếp xúc trực tiếp và nhanh chóng có được những kết quả PR tốt nhất.

Bạn hãy dành một chút thời gian trong mỗi ngày để thực thi theo đúng bảy bước trên, và một ngày nào đó bạn sẽ trở thành một chuyên gia trong “đấu trường” PR. Hơn tất cả, yếu tố hấp dẫn nhất của chiến lược PR này đó là chi phí. Trên phương diện guerrilla marketing (marketing theo kiểu du kích), kiểu PR này hoàn toàn không đắt đỏ chút nào, nó đơn thuần đòi hỏi ở bạn yếu tố thời gian, sinh lực và trí tưởng tượng.

(Dịch từ bài viết của tác giả Al Lautenslager trên tạp chí Entrepreneur)

Nguồn marketingvietnam.net
Những bước đơn giản giúp công ty bạn có tính cạnh tranh cao, dựa trên nguồn vốn có sẵn.

Việc khởi nghiệp chỉ với 1 số vốn nhỏ, lại đạt được một vị trí thuận lợi cho sự nghiệp hay một sản phẩm bằng việc quảng cáo là một hành trình đầy thử thách và mạo hiểm. Nếu số vốn đó mất đi, thật hiếm để có cơ hội thứ hai cho bạn.

Một trong những giải pháp quảng cáo hữu hiệu chính là có chiến lược PR - “giao tiếp cộng đồng” tốt. PR hiệu quả là cách mang lại những bài xã luận ủng hộ cho sản phẩm , nâng cao vị thế , tăng doanh thu và xây dựng một thương hiệu lớn mạnh.

Điều gì làm cho PR có sức mạnh như vậy ?

Câu trả lời chỉ vẻn vẹn trong 1 từ: Sự tín nhiệm.

Nhiều người thường nhìn nhận mọi việc qua quảng cáo , nhưng một sản phẩm được đề cập trong các bản tin hay trong các bài báo lại có được sự tán thành và tín nhiệm của công chúng mà quảng cáo đơn thuần không thể có được.

Bản tin hàng ngày thực sự kích thích hành động của người mua hơn là phương pháp quảng cáo truyền thống, và một chiến lược giao tiếp cộng đồng tốt là cách để giới truyền thông để ý đến bạn.

Làm thế nào để PR có hiệu quả cho bạn ? Đây là 10 qui tắc để có một kế hoạch PR hiệu quả mang lại ưu thế cạnh tranh trong thị trường của bạn:

1. Nắm vững thị trường của bạn: Việc nhận rõ được giai tầng nào sẽ sử dụng sản phẩm của mình sẽ giúp bạn dễ dàng nhận ra phương tiện truyền thông nào cần thiết để hợp tác. Nhưng phải thật khéo léo trong việc lựa chọn, bởi không có sản phẩm nào có thể chiếm lĩnh được 100% thị trường và cũng không cần điều đó để có được thành công.

2. Nhận ra những sản phẩm hữu ích trong thị trường của bạn: Việc những sản phẩm đó có ích lợi gì cho những khách hàng thân thuộc quan trọng hơn những nét đặc trưng của chúng. Hãy nhớ rằng, khi bạn luôn cố gắng bán sản phẩm hay dịch vụ cho các phương tiện truyền thông thì những câu chuyện về chúng sẽ sớm được đăng tải cho mọi người biết đến. Chỉ cho họ thấy những lợi ích và những con số về thời gian và tiền của mà khách hàng tiết kiệm được bằng việc sử dụng sản phẩm của bạn.

3. Chứng tỏ sản phẩm của bạn là độc đáo: 1 điều khá quan trọng là bạn có thể chứng minh sản phẩm của mình nhanh hơn , tốt hơn, sạch hơn hoặc nhiều ích lợi hơn nhiều lần các đối thủ khác hoặc với tiêu chuẩn sản xuất. Những ưu thế đó sẽ là điểm để phương tiện truyền thông làm nổi bật sản phẩm của bạn lên.

4. Có nguồn gốc và giấy chứng nhận: Tất cả các sản phẩm đều ngang bằng nhau, giấy chứng nhận là một lợi thế để nâng cao uy tín cho sản phẩm của bạn trong bất kì mẩu quảng cáo nào. Nó chứa đựng tính đúng đắn của các tờ quảng cáo đó. Giấy chứng nhận là yếu tố khác biệt chính của sản phẩm. Trong một số mẩu quảng cáo, bạn có thể sẽ tránh xa người lạ nào đó với tên gọi “C.K” đến từ Omaha nói rằng sản phẩm của họ thật “tuyệt”. Tuy nhiên một mẩu tin cần phải đạt được những mục đích mà bạn nhắm đến.

5. Chọn phương tiện truyền thông cho thị trường mục tiêu: Tìm ra phương tiện mà những khách hàng mục tiêu thường đọc, xem và nghe. Trong nhiều trường hợp , bạn sẽ nhận ra những tập san đặc biệt hoặc các chương trình cho lĩnh vực bạn đang nhắm đến.Nếu điều đó không rõ ràng, bạn cần làm nghiên cứu để tìm ra phương tiên được sử dụng nhiều nhất bởi nhóm khách hàng đó. Bạn có thể kiếm được thông tin này từ SRDS và bất kì dịch vụ hướng dẫn Bacon nào. Những loại ấn phẩm này như báo, tạp chí, thư tín, radio và truyền hình còn phụ thuộc vào từng vùng và từng nhóm khách hàng. Chúng cũng cung cấp thông tin Cá nhân cho những chủ bút.

6. Chuẩn bị cho các thông cáo báo chí: Hãy mở đầu các bài viết với một tiêu đề tốt và theo phong cách AP để nhà báo có thể chọn làm tư liệu cho bài viết của họ. Phần mở đầu chỉ nên giới hạn trong 25 từ và có thể diễn đạt được tiêu đề và nội dung tóm tắt. Các phóng viên có ”speed reading-tốc độ đọc” trung bình là 7 giây với hàng trăm nguồn tin nhận được mỗi ngày, vì vậy 25 từ đầu tiên là những từ then chốt. Và hãy nhớ nên kết thúc bài viết trong 1 trang giấy hoặc ít hơn.

7. Gửi đi các thông cáo báo chí: Hãy gọi cho những người có tên tuổi trong giới truyền thông. Và cho họ biết bạn có thông tin có thể rất thú vị với họ và những độc giả. Gửi cho họ tiêu đề và phần mở đầu. Ngay sau đó họ sẽ đưa ra quyết định, có thể là thích hoặc không. Và với câu trả lời “Yes” hay “Maybe”, nó có nghĩa là “ hãy gửi fax hoặc email chi tiết cho tôi”. Tiếp đó là trình bày rõ ràng cho sự chú ý đó. Hãy lựa chọn thời gian thích hợp vào hôm sau hoặc một dịp nào đó để gọi lại cho họ.

8. Follow up (Bước tiếp): Hãy gọi cho người bạn đã gửi tin khi bạn đã nói sẽ chấp nhận dù được hay không những thông tin mà họ đã nhận và sẽ cung cấp thêm thông tin nếu cần.

9. Giữ liên lạc: Đừng nên quá tự cao. Nếu các mẩu quảng cáo của bạn có giá trị , nó sẽ được chấp nhận. Nhưng bạn nên cung cấp thêm những thông tin có ích khác nữa cho đối tác. Đây cũng là một cách tốt để các thông cáo báo chí của bạn được chú ý đến ở các lần tiếp theo.

10. Sử dụng một bức ảnh: Một bức ảnh hơn là ngàn lời nói. Những bức ảnh trên chương trình truyền hình hằng ngày làm cho người xem nhân thức rõ ràng hơn bao giờ hết và có hiệu quả hơn hẳn so với những tạp chí đặc biệt hàng tháng. Những ấn phẩm đó thường chỉ được yêu thích bởi những bức ảnh có tính giáo dục hoặc mang thông tin đến cho độc giả.

Các bước trên có đảm bảo cho việc xuất bản, phát sóng và thành công không ? Câu trả lời là không.

Nhưng làm theo chúng bạn sẽ tăng cơ hội thành công và cũng bắt đầu tạo dựng được mối quan hệ tốt với giới truyền thông, một điều khá cần thiết trong tương lai. Và bạn cũng có được sự ưu thế cạnh tranh hơn cho sản phẩm của mình, trong khi những kết quả khác mà bạn có được nhờ “free press-tự do báo chí” sẽ có hiệu quả hơn.

Vì vậy, nếu bạn muốn khởi đầu PR cho chính mình, hãy làm theo các bước trên. Sau đó bạn có thể áp dụng những nỗ lực thực tế đó vào môi trường không gian ảo- đó là chiến lược có thể nhân sức mạnh cho thông điệp của bạn lên nhiều lần , điều mà những phương tiện thông tin truyền thống không thể làm được.

Nguồn vnbrand.net
Làm thế nào để sản phẩm của mình nổi bật so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.?Nên hỏi khách hàng cái gì? Làm thế nào để tiến gần tới mục tiêu? Một số tác giả nổi tiếng của các loại sách và băng đĩa dạy bán hàng ở Mỹ sẽ trả lời những câu hỏi trên thông qua việc tiết lộ các bí quyết bán hàng thành công.

20 bí quyết bán hàng của doanh nhân Mỹ thành đạt
Brian Tracy: Mẹo bán hàng dành cho những người lần đầu tiên kinh doanh

1. Bán những lợi ích chứ không bán đặc tính của sản phẩm. Lỗi lớn nhất mà người bán hàng phạm phải là cứ tập trung miêu tả sản phẩm và dịch vụ của mình. Trong khi việc tốt hơn nên làm là nói về những điều khiến cho sản phẩm đó trở nên quan trọng.

2. Bán cho những người có khả năng mua nhất. Khách hàng tiềm năng tốt nhất của bạn là người rất quan tâm tới sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn và có nguồn tài chính để mua nó. “Nếu bạn đang bán máy photocopy, đừng cố gắng bán nó cho những người chưa từng mua loại sản phẩm này trước đó”, Tracy khuyên. “Hãy bán cho những người đã từng mua sản phẩm này hoặc những người bạn biết là có nhu cầu mua. Hãy chỉ cho họ thấy các sản phẩm của bạn tốt như thế nào”.

3. Tạo sự khác biệt cho sản phẩm của bạn. Tại sao khách hàng nên mua hàng của bạn mà không nên mua sản phẩm do đối thủ cạnh tranh với bạn chào mời? Tracy gợi ý nên tạo ra ít nhất 3 lý do để khách hàng mua sản phẩm của bạn: Sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn hoạt động nhanh hơn, giá rẻ hơn và có chất lượng cao hơn.

4. Tiếp cận khách hàng trực tiếp. Việc đầu tư một số tiền lớn vào quảng cáo trên các ấn phẩm hoặc gửi mail trực tiếp là một trong những cách kém hiệu quả nhất đối với những doanh nhân lần đầu làm kinh doanh. Không có đường tắt trong việc tiếp cận mang tính chất cá nhân. Hãy gặp gỡ với từng khách hàng của bạn, nếu không gặp trực tiếp thì ít nhất cũng gọi điện thoại.

5. Hướng tới lần bán hàng kế tiếp. Gần 85% các vụ mua bán diễn ra thông qua con đường truyền khẩu: “Chúng là kết quả của việc một ai đó nói với bạn bè hoặc đồng nghiệp rằng nên mua một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó bởi chính họ đã từng có được sự hài lòng”, Tracy nói. Vì vậy, cần tập trung xây dựng các vụ mua bán trong tương lai với mỗi khách hàng. "Tất cả những việc bạn làm đều phải hướng tới các lần mua bán tiếp theo".

Linda Richardson: Thành công trong cách thuyết phục khách hàng

Bạn có thể nâng cao hơn nữa tỷ lệ thành công trong các lần bán hàng bằng cách tìm hiểu hết mức có thể về khách hàng tiềm năng của bạn, đặc biệt tập trung tìm hiểu các nhu cầu của họ.

1. Xây dựng mối quan hệ. Trước khi thảo luận kinh doanh, cần xây dựng mối quan hệ với khách hàng tiềm năng. Để làm điều đó, hãy làm một số công việc chuẩn bị. Tìm hiểu xem liệu bạn và khách hàng đó có cùng quen biết một người nào đó? Công ty của anh ta gần đây có xuất hiện trên các phương tiện thông tin? Anh ta có quan tâm tới thể thao? “Hãy tìm hiểu sâu thêm một chút về công ty và cá nhân khách hàng, nhờ đó bạn có thể tạo được mối quan hệ thật sự”, Richardson khuyên.

2. Hỏi nhiều câu hỏi khác nhau. Hãy hỏi những câu mà phần trả lời yêu cầu nhiều hơn là “Có” hoặc “Không”. Các câu hỏi không chỉ về giá cả, chi phí, thủ tục và các yếu tố kỹ thuật. Quan trọng nhất, theo Richardson, nên hỏi sao đó để câu trả lời có thể cho biết về động cơ mua sắm của khách hàng, các vấn đề cũng như nhu cầu của khách và quá trình đi đến quyết định.

3. Thăm dò sâu hơn. Nếu một khách hàng tiềm năng nói với bạn rằng: “Chúng tôi đang tìm cách tiết kiệm chi phí và gia tăng hiệu quả”, và bạn ngay lập tức nói với anh ta bằng cách nào các sản phẩm của bạn đáp ứng các yêu cầu đó, thì lời nhận xét của Richardson là: “Một người bán hàng thực sự khôn ngoan sẽ không làm như vậy”. Cần hỏi thêm để thăm dò sâu hơn. “Tôi hiểu tại sao điều đó quan trọng. Có thể cho tôi ví dụ cụ thể được không?”. Richardson gợi ý: hỏi để biết thêm thông tin và nhờ vậy bạn có thể xác định vị trí sản phẩm của bạn tốt hơn và hiểu các nhu cầu của khách hàng.

4. Học cách lắng nghe. Những người bán hàng nói liên tục trong suốt thời gian giới thiệu sản phẩm khiến khách hàng cảm thấy nhàm chán và thường làm mất cơ hội của mình. Bạn cần dừng lại lắng nghe ít nhất 50% số thời gian dành cho việc giới thiệu. Bạn có thể nâng cao kỹ năng lắng nghe của mình bằng cách ghi chép vắn tắt, quan sát ngôn ngữ hành động của khách, không nhảy xổ vào kết luận mà tập trung vào điều mà khách hàng đang nói.

5. Theo sát khách hàng. Hãy viết thư cảm ơn, gọi điện cho khách hàng sau khi bán hàng để đảm bảo họ hài lòng và duy trì mối quan hệ trong tương lai. “Bạn phải ở phía trước khách hàng và luôn bày tỏ sự quan tâm cũng như trách nhiệm”, Richardson nói. “Việc theo sát khách hàng là rất tích cực”.

Shari Posey: Chuẩn bị và đảm bảo

Một thuyết trình thành công bắt đầu với sự chuẩn bị cẩn thận và kết thúc bằng những đảm bảo về sự hài lòng của khách hàng. 5 chiến lược bán hàng hàng đầu của Posey chính là:

1. Viết ra giấy bài thuyết trình. “Đó không phải là điều bạn có thể làm tranh thủ lúc ngồi trên máy bay” Posey khuyến cáo. Luôn sử dụng bài thuyết trình đã được trình bày thành văn bản. Suy nghĩ về 6 điểm chủ yếu của sản phẩm hoặc dịch vụ mà mình thuyết trình. Tìm những câu hỏi giúp thăm dò phản ứng và nhu cầu của khách hàng đối với mỗi điểm trên. “Điều này sẽ giúp bạn xác định những mục tiêu mà khách hàng của bạn muốn đạt tới và nhờ đó bạn có thể chỉ ra làm thế nào các sản phẩm và dịch vụ của bạn có thể đáp ứng yêu cầu của họ”.

2. Viết ra giấy những ý kiến phản đối. Tỏ cho khách hàng tiềm năng của bạn biết bạn đang thực sự lắng nghe điều họ nói bằng cách viết vào sổ các ý kiến phản đối của họ. Bằng cách này, bạn có thể trả lời cụ thể vào các nội dung phản đối của họ và chỉ ra họ sẽ thu được những lợi ích từ sản phẩm và dịch vụ của bạn như thế nào.

3. Đưa ra chính sách khuyến khích cho lần đầu tiên. Đề nghị khách hàng một điều gì đó có ý nghĩa, nhờ đó nếu họ thích sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn, họ sẽ được khuyến khích đưa ra quyết định tức thì thay vì đợi vài hôm hoặc thậm chí bỏ qua nó. Đề nghị có tính khuyến khích cho lần mua đầu tiên có thể là: “Giảm giá 10% nếu bạn mua hôm nay” hoặc “Nếu mua hôm nay, bạn sẽ nhận được một giờ tư vấn miễn phí”.

4. Đề nghị một sự đảm bảo 100%. Hãy để khách hàng của bạn biết sự hài lòng của họ được đảm bảo. “Một chính sách bảo hành tốt giúp giảm thiểu các ý kiến phản đối của khách hàng và cho thấy bạn tin vào sản phẩm và dịch vụ của mình”, Posey nói. Bảo hành sản phẩm không nên kèm theo bất kỳ điều kiện nào như “Bảo hành chỉ trong 30 ngày”. Bạn có thể sử dụng chính sách bảo hành thậm chí nếu bạn bán một dịch vụ. “Đảm bảo bạn sẽ ngạc nhiên về chất lượng dịch vụ, nếu không chúng tôi sẽ làm lại miễn phí”.

5. Giới hạn với 2 sự chọn lựa. Thay vì hỏi “Sản phẩm đó như thế nào”, hãy đưa cho khách hàng của bạn một sự chọn lựa. Ví dụ, nếu bạn đang bán các sách giáo dục cho người phụ trách trường mẫu giáo, hãy hỏi họ xem họ muốn mua toàn sách hay mua sách và băng đĩa cùng với nhau. Khi họ đưa ra lựa chọn của mình, viết giấy đặt hàng ngay. “Khách hàng của bạn thường không ngăn bạn lại”, Posey giải thích. “Bởi vì trong tâm thức họ thừa nhận họ đã cam kết với bạn và họ vừa nói vâng đó thôi”.

Bob Bly: Tư liệu bán hàng

Bạn muốn thực sự gây ấn tượng với khách hàng và cung cấp cho họ những tài liệu khiến họ muốn đặt hàng ngay ư? Hãy áp dụng 5 bí quyết bán hàng quan trọng của Bob Bly.

1. Hãy chuẩn bị tài liệu của bạn nhằm phục vụ một khách hàng cụ thể. Bạn không thể hiểu và đáp ứng các nhu cầu của mọi khách hàng tiềm năng. Hãy cho thấy bạn là một chuyên gia, Bly nói. “Khi tài liệu bán hàng của bạn được chuẩn bị chỉ để phục vụ những đối tượng khách hàng cụ thể, bạn có ưu thế trong bán hàng và tìm được sự tin tưởng”, Bly giải thích.

2. Sử dụng các loại giấy chứng nhận. Khách hàng thường không tin rằng sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn có thể làm được những điều như bạn giới thiệu. Bạn có thể vượt qua điều này bằng cách trang bị cho mình những thư khen ngợi của các khách hàng trước đây hoặc hiện nay về bạn và công ty của bạn. Các loại giấy chứng nhận, thường được viết bằng ngôn ngữ riêng của từng khách hàng, được bao quanh bằng các dấu hiệu chỉ sự trích dẫn. Chúng có thể được sử dụng trong các bức thư bán hàng, các mẫu quảng cáo và tờ rơi.

3. Viết trên cơ sở ý kiến của khách hàng. “Bắt đầu tài liệu của bạn bằng một nội dung nào đó có liên quan khách hàng tiềm năng”, Bly gợi ý. “Thứ được hầu hết mọi người quan tâm chính là bản thân họ”.
Đại lý bảo hiểm thường sẽ bắt đầu tài liệu giới thiệu chương trình bảo hiểm sức khoẻ người lao động dành cho các doanh nghiệp nhỏ bằng câu: “Giới thiệu kế hoạch bảo hiểm sức khoẻ cho người lao động”. Đại lý bảo hiểm sẽ thu được những kết quả tốt hơn nếu họ viết một điều gì đó trực tiếp thu hút sự quan tâm của khách hàng. Đó có thể là: “Chi phí bảo hiểm tăng cao đe doạ hoạt động kinh doanh của công ty bạn?’. Theo giải thích của Bly, “Đó mới là điều những người chủ doanh nghiệp quan tâm”.

4. Sử dụng các câu hỏi. Một cách hiệu quả để gắn kết những khách hàng tiềm năng với bạn là đặt câu hỏi trong dòng đầu tiên của tài liệu. “Tất cả những người chủ cơ sở dịch vụ rửa xe ô tô cần biết 7 bí mật kinh doanh thành công này. Còn bạn?” hoặc “Tại sao những người chủ không được thông báo về sự thật này?”.

5. Biến tiêu cực thành tích cực. Nếu bạn là người mới trong kinh doanh và chưa bán được nhiều sản phẩm hoặc chưa ký được nhiều hợp đồng dịch vụ với khách hàng, đừng thất vọng. Bạn có thể viết về tình trạng của bạn theo cách này: “Chưa một ai trong số hàng ngàn khách hàng từng biết về những ưu điểm của mẫu thiết kế XYZ mới này”.

Marketing hiện đại chính thức ra đời vào năm 1960. Các nhà nghiên cứu Marketing nhận thấy quan điểm xem Marketing là một nghành khoa học kinh tế như trong giai đoạn trước những năm 60 của thế kỷ 20 không thật sự chính xác bởi không phản ánh bản chất của Marketing. Giữa năm 1960, các nhà lý thuyết và thực tiễn Marketing đã tiếp cận Marketing theo những cách nhìn mới. Thay vì xem Marketing là một ngành khoa học kinh tế và chủ thể hoạt động là các nhà marketing, các nhà nghiên cứu mới cho rằng Marketing chính xác phải là ngành ứng dụng của khoa học hành vi và chủ thể của nó phải là hành vi của người tiêu dùng. Sự thay đổi tiên đề Marketing đã tạo ra các trường phái Marketing mới và cùng tồn tại dưới cùng một tên gọi là Marketing hiện đại.

Người làm kinh doanh nên tìm hiểu các trường phái Marketing hiện đại để có thể làm kinh doanh đạt hiểu quả. Hiểu rõ các trường phái Marketing có nghĩa là nhà kinh doanh nắm rõ các khái niệm chủ chốt của Marketing, tránh được những sai lầm Marketing vì thiếu hiểu biết. Và quan trọng hơn cả là việc tìm hiểu các trường phái Marketing hiện đại giúp doanh nghiệp chọn lựa hình thức Marketing phù hợp với hoạt động kinh doanh của tổ chức, để co thể tạo ra lợi nhuận tối đa.

Dưới đây sẽ mô tả 6 trường phái của Marketing hiện đại là:
(1) marketing vĩ mô
(2) bảo vệ người tiêu dùng
(3) hệ thống
(4) hành vi tiêu dùng
(5) hành vi tổ chức
(6) hoạch định chiến lược.

Trường phái marketing vĩ mô

Trường phái marketing vĩ mô ra đời do sự thay thế tiên đề trao đổi kinh tế bằng tiên đề trao đổi giá trị. Nó liên quan đến trách nhiệm của marketing đối với xã hội.
Tư tưởng của trường phái này là chuyển đổi mục tiêu của marketing từ đơn hướng là lợi nhuận sang đa hướng như lợi ích của khách hàng, cộng đồng và xã hội chứ không phải đơn thuần là lợi nhuận.

Và các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này đi theo hai hướng nghiên cứu chính. Một là, cho rằng marketing là hoạt động của xã hội vừa chi phối xã hội vừa chịu sự chi phối của xã hội. Tiên phong theo hướng này là Fisk (1967), Greth & Holloway (1967), Holloway & Hancock (1964). Holloway & Hancock phát triển các hệ thống các yếu tố về môi trường của marketing như xã hội, nhân chủng, tâm lý, kinh tế, pháp lý, đạo đức, cạnh tranh, công nghệ. Greth & Holloway kêu gọi các nghiên cứu về tác động của các chính sách nà nước vào việc ra quyết định quản trị và hiệu ứng của các quy định pháp lý vào chức năng marketing. Hai là, tập trung vào mục đích phát triển kinh tế, kiểm soát dân số, phân phối thu nhập, v.v của marketing với các đóng góp của các tác giả như Bagozzi (1977), Kotler (1975)v.v…

Trường phái marketing bảo vệ người tiêu dùng:

Trường phái bảo vệ người tiêu dùng tập trung bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Trường phái này xuất hiện khi các học giả marketing phát hiện những bất hợp lý về quyền lợi của người tiêu dùng trên thị trường, đặc biệt là sự xuất hiện tác phẩm của Nader (1965) về sự không an toàn đối với người tiêu dùng. Từ trường phái marketing bảo vệ người tiêu dùng này đã tạo nên một xu hướng nghiên cứu mới trong marketing và dẫn đến lý thuyết về sự thỏa mãn của khách hàng trong marketing với các nghiên cứu của Andreasen (1977), Hunt (1977)v.v…

Trường phái marketing hệ thống

Trường phái marketing hệ thống ra đời bởi một số nhà nghiên cứu marketing như Lancaster (1971), Little (1966)…tập trung thích thú của mình vào các mô hình định lượng marketing. Trường phái này tiếp tục phát triển rất mạnh cho đến ngày nay do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tính toán thông qua các máy tính cá nhân. Đóng góp chủ yếu của trường phái hệ thống chính là đóng góp vè phương pháp nghiên cứu trong marketing. Nó giúp định hướng phương pháp lượng hóa quá trình marketing.

Trường phái marketing hành vi tiêu dùng

Đây là kết quả từ sự thay thế của tiên đề chủ thể marketing là nhà marketng tiên đề cân bằng quyền lực hay chủ thể của marketing là người tiêu dùng. Và đây được xem là trường phái tạo được sự quan tâm nhiều nhât của các nhà nghiên cứu marketing. Các nhà nghiên cứu marketing ứng dụng các nguyên tắc hành vi (tâm lý học) để phân tích hành tiêu dùng trên thị trường. Hàng loạt các khái niệm của marketing như lòng trung thành, thái độ, xu hướng tiêu dùng, xử lý thông tin của người tiêu dùng và hàng loạt hành vi tiêu dùng đã ra đời. Các tên tuổi gắn với trường phái này phải kể đến là Davis, Howard & Sheth, Webster & Wind v.v…

Trường phái marketing hành vi tổ chức

Trường phái marketing hành vi tổ chức ra đời khi các học giả marketing nhận ra các nguyên lý hành vi của nhóm người tiêu dùng có thể giải thích cho hành vi của tổ chức, đặc biệt là sự phát triển tư tưởng tâm lý xã hội trong quản trị tổ chức với các đóng góp của Cyert &March (1963), Katz & Kahn (1966). Nhiều nhà nghiên cứu marketing đã áp dụng quan điểm này để nghiên cứu kênh phân phối marketing. Trong giai đoạn đầu, trường phái hành vi tổ chức không được phát triển mạnh trong ngành marketing. Lý do là khó khăn trong thu thập dữ liệu kênh phân phối.

Trường phái marketing hoạch định chiến lược

Trường phái marketing hoạch định chiến lược tập trung vào việc hoạch định chiến lược marketing trong môi trường động. Trường phái này góp phần chuyển biến tầm nhìn của marketing từ hướng mang nhiều tính chiến thuật sang những vấn đề măng tính chiến lược, đồng thời cũng góp phần liên kết công cụ nghiên cứu thị trường như là một bộ phận của quá trình hoạch định chiến lược và chương trình marketing. Đóng góp vào trường phái này phần lớn từ các công ty tư vấn và khách hàng của họ như Boston Consulting Group, Generic Electric…

Theo kienthuckinhte.com
Có ít nhất 4 trong số 10 câu hỏi sau luôn được hỏi trong buổi phỏng vấn. Bạn có thể quá quen thuộc với chúng, nhưng hãy cẩn thận! Nếu không có cách trả lời phù hợp, bạn vẫn có thể bị loại ngay từ vòng đầu!

Câu hỏi 1: Hãy kể cho tôi nghe đôi điều về bạn

Có đến 98% các cuộc phỏng vấn tuyển dụng bắt đầu bằng câu hỏi này. Đừng bao giờ kể “tràng giang đại hải” về tiểu sử bản thân ở đây! Cái NTD muốn nghe chỉ là một đoạn mô tả ngắn gọn chừng 2-3 phút về bạn và “vốn” bạn đã chuẩn bị để có thể ứng tuyển vào vị trí này (bằng cấp, kinh nghiệm làm việc, thành tích đã đạt được…). Hãy chuẩn bị một vài điểm nhấn để quảng bá bản thân, nhưng phải phù hợp với vị trí bạn ứng tuyển để tránh gây phản tác dụng. Chẳng hạn, bạn không nên “khoe”: “Tôi vừa hoàn thành một khóa học thiết kế đồ họa với kết quả xuất sắc” khi ứng tuyển vào vị trí nhân viên kinh doanh hóa chất!

Câu hỏi 2: Tại sao bạn muốn làm việc ở công ty chúng tôi?

Khi hỏi câu này, NTD muốn kiểm tra xem bạn đã nghiên cứu, tìm hiểu về công ty trước khi đến dự phỏng vấn hay chưa. Đương nhiên là bạn cần nói tốt về công ty, nhưng đừng ca ngợi một cách sáo rỗng hay chỉ nói suông. Chẳng hạn, nếu bạn nêu lý do: “Tôi thích được làm việc trong những doanh nghiệp biết trân trọng người lao động như ở đây” thì nên giải thích thêm bạn dựa vào những thông tin, số liệu nào để đúc kết được điều này.

Câu hỏi 3: Bạn nghĩ lý do gì khiến chúng tôi nên tuyển dụng bạn?

Đây lại là một cơ hội tốt để bạn quảng bá cho bản thân. Hãy chuẩn bị 3 điểm mạnh để “PR” cho mình. Tuy nhiên, chúng phải cụ thể và phù hợp với vị trí bạn nộp hồ sơ vì NTD luôn muốn tuyển “đúng người” cho “đúng việc”. Chẳng hạn, nếu ứng tuyển vào vị trí giám sát bán hàng, bạn có thể trình bày như sau: “Với 4 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bán hàng và đã giúp công ty cũ tăng doanh thu 20%, tôi tự tin mình sẽ đóng góp được nhiều nếu trở thành nhân viên công ty”.

Câu hỏi 4: Tại sao bạn lại rời bỏ công việc cũ?

Đây là một câu hỏi “nhạy cảm”. Phần đông tài liệu tư vấn nghề nghiệp khuyên bạn tuyệt đối không đề cập đến những điểm tiêu cực trong công việc cũ vì sẽ làm bạn “mất điểm” trong mắt NTD. Thật ra, điều này còn tùy thuộc vào NTD. Chị X, Phụ trách nhân sự ở Văn Phòng Điều Hành Công Trình tại TP. HCM của công ty Bouygues Batiment International (Pháp), đã từng đánh giá rất cao một ứng viên khi cô trả lời như sau: “Em không muốn làm việc trong một công ty mà quyền hành tập trung vào tay một Trưởng phòng (người Việt Nam). Với em, môi trường làm việc như vậy là không lành mạnh. Em cần một môi trường tốt hơn để phát triển sự nghiệp”. Theo chị X, ứng viên này là người thẳng thắn, có bản lĩnh, dám nghĩ dám làm. Vì thế, cách tốt nhất là bạn đề cập một vài điểm tiêu cực (nếu có) ở công việc cũ nhưng đừng quên nhấn mạnh khía cạnh tích cực của lý do bạn ra đi như “Muốn thử sức ở một môi trường mới”.

Câu hỏi 5: Đâu là điểm yếu của bạn?

Cách hay nhất để trả lời câu hỏi này là thành thật thừa nhận điểm yếu của bạn, nhưng đồng thời phải chỉ ra được cách thức bạn đã khắc phục nó. Chẳng hạn nếu bạn từng yếu trong việc lập kế hoạch và quản lý thời gian thì hãy chỉ ra cách mà bạn đã khắc phục như lên lịch làm việc chi tiết vào đầu ngày rồi xếp mức ưu tiên cho từng công việc. Như vậy, NTD sẽ đánh giá bạn là người luôn quyết tâm cải thiện năng lực bản thân.

Câu hỏi 6: Khả năng làm việc nhóm của bạn có tốt không?

Gần như tất cả mọi người đều trả lời “Tốt” hoặc “Khá tốt” đối với câu hỏi này. Tuy nhiên, chỉ trả lời như thế thôi thì chưa đủ để thuyết phục NTD. Bạn nên nói thêm về lợi ích của làm việc tập thể so với làm việc cá nhân và những yếu tố giúp bạn làm việc nhóm tốt. Đồng thời, bạn cần cho ví dụ về một dự án bạn đã tham gia thực hiện. Chẳng hạn: “Tháng 2 năm rồi, tôi nhận trách nhiệm quản lý dự án sản xuất phần mềm cho một bệnh viện. Do nhóm của tôi có một số người mới nên lúc đầu sự phối hợp giữa các thành viên chưa tốt. Sau đó, tôi cải tiến lại quy trình làm việc, đồng thời gia tăng việc đào tạo cho các thành viên mới. Nhờ vậy, mọi chuyện dần cải thiện. Cuối cùng, phần mềm đó được khách hàng nghiệm thu, đánh giá cao và đưa vào sử dụng ngay.”

Câu hỏi 7: Bạn đã bao giờ có mâu thuẫn với đồng nghiệp chưa? Bạn giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?

Lưu ý đối với câu hỏi này, nếu bạn trả lời: “Tôi chưa bao giờ có mâu thuẫn với đồng nghiệp”, NTD sẽ nghi ngờ và tiếp tục “tra hỏi” cho đến khi tìm ra sự thật. Cách tốt nhất là bạn nên “nói giảm, nói tránh” một chút, đồng thời chỉ ra cách giải quyết của bạn, chẳng hạn: “Không đến mức gọi là mâu thuẫn. Tôi chỉ có một vài lần bất đồng ý kiến với đồng nghiệp. Khi chuyện xảy ra, tôi đề nghị được gặp trực tiếp họ và dành thời gian để lắng nghe quan điểm của họ. Sau đó, chúng tôi thảo luận cho đến khi tìm ra một giải pháp khả dĩ nhất cho đôi bên.”

Câu hỏi 8: Mục tiêu nghề nghiệp của bạn trong vòng 5 năm tới là gì?

Nếu bạn đã lập kế hoạch nghề nghiệp thì bây giờ chỉ việc sử dụng những thông tin trong đó để giới thiệu với NTD. Ví dụ: “Trong vòng 5 năm tới, tôi muốn trở thành trưởng phòng phân tích tài chính của một doanh nghiệp lớn. Chính vì thế, hiện nay tôi đang theo học một khóa Chartered Financial Analyst (CFA) ở Trung tâm FTMS.”

Câu hỏi 9: Bạn đề nghị mức lương ra sao?

Đây là câu hỏi khó nhất trong tất cả các câu hỏi, đặc biệt với những người ít kinh nghiệm. Để trả lời tốt câu hỏi này, trước khi đi phỏng vấn, bạn hãy tìm hiểu mức lương phổ biến trên thị trường đối với vị trí bạn ứng tuyển. Sau đó kết hợp với mức lương bạn mong muốn và mức lương gần đây nhất của bạn để có thể đưa ra câu trả lời thích hợp nhất. Tốt nhất là bạn nên đề nghị mức lương kiểu "khoảng" hơn là một con số chính xác.

Câu hỏi 10: Bạn có câu hỏi nào cho chúng tôi không?
Hãy tận dụng cơ hội này để thể hiện sự nhiệt thành của mình với công việc! Hãy hỏi NTD ít nhất một câu, có thể là về chế độ phúc lợi, điều kiện và thời gian làm việc …; chẳng hạn: “Tôi có phải làm việc vào ngày thứ bảy không?”. Không nên nói “Không, anh/chị đã trả lời tất cả các câu hỏi của tôi rồi.” hoặc “Không, tôi không có câu hỏi nào cả.”

Trả lời phỏng vấn tuyển dụng vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Vì là nghệ thuật nên bạn cần nghiên cứu mới biết cách trả lời. Tuy nhiên, do cũng là nghệ thuật nên bạn phải linh hoạt, khéo léo thì mới trả lời phỏng vấn tuyển dụng thật sự tốt được. Vì thế, bạn đừng bao giờ học thuộc lòng những ví dụ trên đây rồi “trả bài” cho NTD! Chúng chỉ đóng vai trò định hướng, gợi cảm hứng cho bạn sáng tạo và tìm ra những cách trả lời phù hợp nhất với bản thân. Chúc bạn may mắn khi tìm việc nói chung và dự phỏng vấn tuyển dụng nói riêng!

Sưu tầm
Trong việc xây dựng và nuôi dưỡng một nhãn hiệu mạnh, bạn sẽ có nhiều thứ phải làm hơn là bí quyết 10C này, tuy nhiên không một nhãn hiệu nào thực tế trở thành một nhãn hiệu mạnh nếu nó không vượt qua Cuộc sát hạch 10C. Vì vậy, cho dù bạn đang quản lý nhãn hiệu của công ty bạn hay đang xây dựng một nhãn hiệu cá nhân riêng mình, hãy suy nghĩ về bí quyết 10C.


1. Competent - Đủ năng lực

Đây là yếu tố then chốt đưa bạn vào cuộc chơi. Bạn sẽ không thể đi quá xa với một nhãn hiệu, nếu sản phẩm/dịch vụ của bạn có chất lượng kém hoặc không đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.

Khi lần đầu tiên xuất hiện tại Thụy Điển, các sản phẩm đồ gỗ của hãng IKEA được thiết kế khá bắt mắt, nhưng chất lượng lại không cao, và do vậy mà hãng không có được một thương hiệu vững chắc. Sau nhiều năm nỗ lực cải thiện, IKEA bắt đầu sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao hơn, đồng thời vẫn duy trì mức giá cạnh tranh. Giờ đây, các sản phẩm nội thất của IKEA được cả thế giới biết đến với danh tiếng về chất lượng tốt, kiểu dáng thời trang và mức giá phải chăng.

Đủ khả năng (Competence) là chữ cái C đầu tiên. Nếu bạn không có một sản phẩm/dịch vụ chất lượng tốt, thì nghĩa là bạn đang lãng phí những nỗ lực xây dựng và quảng bá nhãn hiệu của mình.

2. Credible - Đáng tin cậy

Không chỉ các sản phẩm/dịch vụ của bạn cần có chất lượng ổn định, mà ngay bản thân bạn cũng cần chứng tỏ sự đáng tin cậy trong việc giao nhận. Bạn phải thành thật với những giá trị cốt lõi của bạn và đảm bảo chúng trong tất cả những gì bạn làm.

Mặc dù hoàn toàn có khả năng sản xuất các bộ sưu tập quần áo sang trọng đắt tiền, song hãng may mặc GAP có thể không có được sự đáng tin cậy khi mở rộng ra dòng sản phẩm mới này để cạnh tranh với hai nhà mốt khác là Valentino và Dior tại các sàn diễn thời trang ở Paris. Hay Starbucks hoàn toàn là một đối tác tin cậy khi tung ra thị trường những máy sản xuất cà phê thượng hạng. Starbucks biết mọi thứ về cà phê, và do vậy đề xuất bán hàng này là có thể tin tưởng.

3. Clear - Rõ ràng

Các nhãn hiệu mạnh luôn tỏ ra rõ ràng về một hình ảnh mà họ mong muốn thể hiện cũng như những gì không cần thiết truyền tải. Những công ty sở hữu các nhãn hiệu đó hiểu được giá trị lời hứa của họ - và lời hứa này khiến họ trở nên khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, khiến cho sản phẩm/dịch vụ trở nên hấp dẫn hơn, thu hút và xây dựng lòng trung thành của các khách hàng trên thị trường.

Ví dụ, tập đoàn sản xuất xe hơi Volvo luôn thể hiện rõ ràng lời hứa về độ an toàn và chất lượng sản phẩm. Nhãn hiệu Volvo không gắn liền với hình ảnh những chiếc xe thể thao mạnh mẽ, những chiếc xe nhỏ tiết kiệm nhiên liệu hay những chiếc xe sang trọng. Sự rõ ràng đã phân tách Volvo ra khỏi nhiều đối thủ cạnh tranh khác kém thành công hơn - những công ty nỗ lực để trở thành “tất cả mọi thứ cho tất cả mọi người”.

4. Compelling - Hấp dẫn

Một nhãn hiệu mạnh luôn thích hợp - và hấp dẫn - các đối tượng khách hàng mục tiêu, bởi nó thể hiện tính tương thích, biết rõ cần đặt trọng tâm vào đối tượng nào, cũng như cần đạt được điều gì để các khách hàng thật sự có cảm giác thỏa mãn và lôi cuốn.

Ritz Carlton, chủ tịch khách sạn W Hotel, đã không theo đuổi một phong cách thiết kế trẻ trung, hợp mốt, bởi ông biết rằng điều đó sẽ không hấp dẫn những khách hàng cao tuổi và những người khá bảo thủ vốn là khách hàng thường xuyên của khách sạn. Một sỹ quan về hưu đã cho biết cảm nhận của ông về khách sạn W Hotel: “Mọi thứ đều dịu nhẹ, ánh sáng không quá chói khiến mọi người có cảm giác êm đềm, đồng thời màu sắc đơn giản, không lòe loẹt. Chính hình ảnh này đã hấp dẫn tôi đến với khách sạn W Hotel thường xuyên”.

5. Consistent - Nhất quán

Bên cạnh sự rõ ràng của hình ảnh mong muốn truyền tải, các nhãn hiệu mạnh cũng rất nhất quán trong việc thực hiện đúng những gì đã tuyên bố. Trong mọi việc làm của mình, họ đều dựa trên những đặc tính nhãn hiệu xuyên suốt.

Ca sỹ Madonna là một nhãn hiệu luôn cách tân trong lĩnh vực giải trí, song sự thiên biến này lại mang tính nhất quán. Cô luôn tự luôn thay đổi mình trong mỗi đĩa CD mà cô sản xuất. Ban đầu, Madonna không có thay đổi gì trong 5 CD đầu tiên, nhưng từ CD thứ 6 trở đi, cô đã thể hiện một sự cách tân đều đặn.

Và một điều mà chúng ta có thể chắc chắn về đĩa CD tiếp theo của Madonna là nó sẽ không giống với bất cứ CD nào trước đó từng được phát hành. Khả năng không ngừng cách tân của Madonna trong suốt sự nghiệp đã khiến cô trở nên khác biệt với các sao giải trí khác. Chính vì thế, hình ảnh nhãn hiệu của Madonna luôn mạnh mẽ và cuốn hút.

6. Constant - Bền bỉ

Các nhãn hiệu mạnh chưa bao giờ thiếu tính bền bỉ cả. Chúng luôn hữu hình trong tâm trí các khách hàng hiện tại và tiềm năng.

Đối với Coke, toàn thể thế giới là thị trường mục tiêu của họ. Đó là lý do tại sao bạn không thể tìm thấy một nơi nào mà không có màu đỏ tươi hay logo biểu tượng của nhãn hiệu Coca-Cola. Các máy bán hàng tự động, thực đơn nhà hàng, sản phẩm được đặt trên các chương trình giải trí trên truyền hình, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, ngay cả mọi người đi lại trên phố,... tất cả đều mang biểu tượng COKE.

Cơ hội chính là ở chỗ thị trường mục tiêu của nhãn hiệu của bạn có thể nhỏ hơn nhiều so với Coke. Và đó là điều tốt, bởi nó giúp bạn dễ dàng hơn (và cũng giảm đáng kể chi phí) trong việc duy trì một hình ảnh nhãn hiệu kiên định, bền bỉ trong mắt các khách hàng mục tiêu.

7. Confident - Tự tin

Sự tự tin luôn mang tính lôi cuốn cao và đó là một đặc tính của tất cả các nhãn hiệu mạnh. Các công ty sở hữu nhãn hiệu mạnh không bao giờ là một công ty yếu ớt. Họ ra các quyết định với sự tự tin cao và không nghi ngờ về kết quả. Họ có một viễn cảnh và niềm tin rằng viễn cảnh sẽ trở thành hiện thực.

Tập đoàn khách sạn Marriott hoàn toàn tự tin với quyết định “không hút thuốc lá” tại các khách sạn của mình. Marriott thiết lập chính sách này trên toàn thế giới. Trái với dự đoán của nhiều người, doanh thu của Marriot không hề bị ảnh hưởng, thậm chí khách sạn có thu hút được thêm nhiều khách hàng hơn. Các nhãn hiệu mạnh không bao giờ e dè, mà thay vào đó là những thái độ, tình cảm mạnh mẽ xuyên suốt toàn thể tổ chức.

8. Connected - Kết nối

Nhãn hiệu mạnh là một phần của những cộng đồng tương thích khác nhau. Điều này đồng nghĩa với việc:

· Có một mạng lưới các đối tác, đồng nghiệp và khách hàng;

· Phát triển các mối quan hệ liên kết và đối tác chiến lược để củng cố nhãn hiệu;

· Hợp tác chặt chẽ với dây chuyền cung ứng;

· Có một chương trình trách nhiệm xã hội công ty (Corporate social responsibility - CSR) để kết nối với các cơ hội thích hợp;

· Có những đại sứ nhãn hiệu trung thành – những người mà sẽ tạo ra đội ngũ bán hàng mở rộng.

Tập đoàn Apple được kết nối với tất cả các cộng đồng tương thích, và hãng đã thiết lập những mối liên kết tình cảm với các nhân viên, khách hàng và đối tác kinh doanh. Bạn chỉ cần nói chuyện với một ai đó sở hữu một chiếc máy Mac hay iPod là sẽ có thể biết được độ sâu của mối quan hệ này.

9. Committed - Gắn kết

Nhãn hiệu mạnh không phải là cái gì đó có thể được xây dựng trong một sớm một chiều, không phải là sự kiện một lần và cũng không phải là sở thích nhất thời. Các nhãn hiệu mạnh được xây dựng cùng với thời gian và đòi hỏi một sự gắn kết trước sau như một để đảm bảo cho thành công lâu dài. Nếu để ý, bạn sẽ thấy các nhãn hiệu mạnh nhất trên thế giới đều có một tuổi thọ khá lớn (Coke, GE) hay trải qua một thời gian hoạch định, chuẩn bị khá dài trước khi xuất hiện (Google, Amazon, Microsoft).

IBM đã có được lòng tin của khách hàng nhờ một sự gắn kết không ngừng đối với các lời hứa nhãn hiệu trong hàng thập kỷ qua. McDonald’s cũng làm tương tự như vậy.

Giá trị nhãn hiệu được xây dựng qua thời gian nhờ sức sống mãnh liệt của lời hứa nhãn hiệu. Những nhãn hiệu mạnh luôn có thời gian hoạch định và chuẩn bị kỹ lưỡng, để rồi sau đó ra những quyết định chiến lược chuẩn xác nhất.

10. Current - Hiện thực

Các nhãn hiệu mạnh xây dựng nền móng ngày hôm nay và dành sẵn khoảng không để phát triển cho ngày mai. Mặc dù luôn phải tư duy một cách thực tế, song bạn vẫn có thể mơ mộng trong việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu. Giống như Starbucks với viễn cảnh trở thành “nơi thứ ba” để mọi người có mặt, sau “nhà” và “công sở” và luôn nỗ lực để biến viễn cảnh đó thành hiện thực, bạn cũng hoàn toàn có thể làm cho nhãn hiệu của bạn hướng tới tương lai.

Song, dù viễn cảnh tương lai có như thế nào, bạn vẫn phải duy trì mối liên hệ giữa nhãn hiệu với các khách hàng mục tiêu, đồng thời biến đổi để ngày càng trở nên thích hợp hơn với các khách hàng mục tiêu tiềm năng, khi mà cả thế giới không ngừng thay đổi. Ở đây, hằng số duy nhất là sự thay đổi. Đừng để nhãn hiệu của bạn gắn chặt với quá khứ, mà hãy làm cho nó luôn tươi mới và lôi cuốn.

Cho dù bạn đang chuẩn bị cho một chiến dịch nhãn hiệu cá nhân hay tập trung giúp nhãn hiệu của công ty trở nên khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, thì bạn vẫn phải không ngừng tự hỏi bản thân: Liệu nhãn hiệu của mình có đang thể hiện đầy đủ 10 chữ cái C trên hay chưa?

Theo marketingchienluoc
1 cô gái bước vào quán bia với cổ áo khoét sâu, chiếc quần jeans có chiếc cạp thưa như lưới nhện và trễ sâu đến 15 phân.

Hai tay hai điện thoại di động cô bước vào quán trước những con mắt sững sờ đầy ngưỡng mộ của cánh đàn ông bên trong. Họ quan sát cô không chớp mắt và không bỏ sót hành động nào của cô.

Như không quan tâm đến những người xung quanh cô lần lượt rút từng cái điện thoại và xổ ra hàng tràng xủng xoẻng những câu ngoại ngữ bồi, rồi lại í ới tiếng ta chêm nhiều từ lóng. Một lát sau hai cô gái khác ăn mặc táo bạo không kém, tóc nhuộm xanh đỏ tím vàng xuất hiện, sau vài ngụm cà phê họ kéo nhau lên ô tô cười hinh híc và lướt đi. Chiếc biển số xe có hai chữ LD.

Lúc này trong quán không khí mới bỗng trở lại ồn ào, sôi nổi như vốn có của nó. Các vị khách bắt đầu trao đổi, bàn tán, nhận xét:

- Trông các cô này như người mẫu, nhìn thích thật đấy!

- Ôi trời, nhìn các em ấy xong chán hẳn… mụ vợ ở nhà!

- Vừa giầu có, vừa xinh đẹp, đàn ông ai mà không mê kia chứ!

Chợt một cụ đầy vẻ thám tử buông lời nhận xét:

- Thứ nhất: Xinh và ăn mặc “lòi” hết nội thất ra như vậy chứng tỏ các cô này là con nhà thiếu sự kiểm soát của cha mẹ.

Thứ hai: Trông các cô ấy rất nhiều tiền, ăn diện ngút trời chứng minh một điều các cô ấy làm những nghề hái ra tiền.

Thứ ba: Liên tục gọi điện và nói hàng tràng ngoại ngữ bồi thể hiện rằng các cô ấy có đầu tư chút ít về tiếng nước ngoài và đang nói chuyện với người nước ngoài.

Thứ tư: Các cô ấy đi xe biển LD có nghĩa là liên doanh, như vậy kết luận chiếc xe ấy mượn của một người ngoại quốc làm ở công ty liên doanh.

Thứ năm: Hai cô gái được gọi thêm đến về sau chứng tỏ rằng ban đầu họ thiếu người.

Thứ sáu: Các cô gái đến sau cười hinh híc khi lên ôtô thể hiện rằng các cô này chuẩn bị kiếm được một “hợp đồng” béo bở.

Cả sáu chi tiết trên tôi kết luận: Các cô gái này là cave cao cấp!

Tất cả mọi người trong quán đều ồ lên ngưỡng mộ sự nhận xét xác đáng của cụ “thám tử”.

- Làm sao cụ có khả năng quan sát tinh tường đến vậy?

- Ôi dào, đơn giản - Cụ già đáp - Mấy đứa ấy là nhân viên gội đầu thư giãn do tôi quản lý. Đây là cardvisit của chúng nó, xin gửi các anh mỗi người một cái.

Theo vnexpress.net
Có chuyện ngụ ngôn như thế này: Có một anh chàng nọ bán táo. Một phụ nữ đi qua hỏi mua: “Táo có ngon không vậy?” Anh chàng xởi lởi: “Táo ngon, ngọt lắm chị à” . Người phụ nữ lắc đầu bỏ đi: “Rất tiếc tôi lại thích ăn táo chua kia”. Một lúc sau một cô gái khác đi đến. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh nói táo chua nhưng cô gái bỏ đi vì cô ta chỉ thích táo ngọt. Cứ như vậy khi anh nói táo ngọt thì người ta lại thích táo chua, ngược lại những người thích táo ngọt bỏ đi khi anh quảng cáo là táo chua. Cả buổi chợ anh ta chẳng bán được trái táo nào.

Câu chuyện này có vẻ hơi cường điệu, nhưng ta cũng thấy một điều rằng: Anh chàng bán táo kia vì cứ mải mệ chạy theo thị hiếu từng người mà bị thất bại.

Trong marketing, người ta phân chia “phân khúc thị trường” là để thoả mãn tốt nhu cầu của mỗi phân khúc, bởi vì mỗi phân khúc thị trường có đặc điểm, sở thích, thói quen..khác nhau mà sản phẩm không dễ gì đáp ứng được. Nhiều khi phân khúc cực nhỏ (thường gọi là ngách thị trường – niche market) nhưng biết cách khai thác thì thành công hơn là chạy theo nhiều phân khúc. Lại nói về anh bán táo trên, nếu anh ta đừng quá tham lam, chỉ đi theo một phân khúc là những người thích táo ngọt hoặc những người thích táo chua thì ít ra anh ta cũng bán được táo chứ không đến nỗi ế ẩm như trên.

Nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có suy nghĩ giống như anh bán táo nọ: Cố sức đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng bằng các khẩu hiệu thật kêu: “của mọi nhà”, “khắp đất nước”, “dành cho mọi người”. Họ hy vọng bằng cách đó sẽ bán được nhiều sản phẩm cho nhiều người hơn mà quên rằng mỗi khách hàng có những nhu cầu khác nhau, họ không sẵn sàng bỏ tiền ra mua những tính năng họ không hề cần đến hoặc không phù hợp với họ. Vì thế họ sẽ chuyển qua những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu đặc trưng của họ.

Hãy ghi nhớ bài học của nước hoa Champagne. Khi họ cố gắng lôi kéo thêm khách hàng cho sản phẩm nước hoa tuyệt đỉnh sang trọng của mình bằng cách giảm giá xuống, họ không những không có thêm khách hàng mà khách hàng cũ cũng từ bỏ Champgne khi cảm thấy mình bị “xuống giá” theo nước hoa. Điều ngược lại cũng vậy, hãy tưởng tượng Miss Saigon tung ra sản phẩm Miss Saigon Delux với đẳng cấp ngang với CK, Channel… hãy dự báo xem nó sẽ thành công hay thất bại? Chắc chắn là thất bại bởi vì những khách hàng hiện tại sẽ không chấp nhận nước hoa giá cao, dân quýxtộc cũng sẽ không xài nước hoa thương hiệu Miss Saigon cho dù nó sang đến mấy bởi từ “Miss Saigon” đã gợi lên cảm giác “nước hoa rẻ tiền” rồi. Biện pháp cho trường hợp này là đặt tên khác biệt hoàn toàn cho sản phẩm và không để bất cứ gì dính dáng đến Miss Saigon.

Thực tế cho thấy có nhiều thương hiệu tập trung vào một phân khúc khách hàng nhất định đã thành công rực rỡ. WOW là thời trang ở nhà dành cho phụ nữ và là nhãn hiệu thành công. Nếu WOW mở rộng sang trang phục công sở thì chưa chắc khách hàng đã tìm đến. Ngân hàng Sacombank, chi nhánh 8/3 ý tưởng “ngân hàng dành cho phái đẹp” đã thành công ngoài mong đợi.

Ngược lại, những thương hiệu tham lam như Mỹ Hảo thì khó tồn tại về lâu về dài. Hiện nay Mỹ Hảo bán mạnh ở khu vực nông thôn với phân khúc khách hàng bình dân. Nhưng khi thị hiếu khách hàng trở nên khắt khe hơn thì khó có thể chấp nhận dùng loại dầu gội cùng tên với nước rửa chén, nước lau nhà, bột giặt, nước tẩy nhà cầu…như thế. Cách tốt nhất là Mỹ Hảo nên đặt tên khác nhau cho từng dòng sản phẩm.

Chỉ có những sản phẩm hàng tiêu dùng nhanh, mang tính đại chúng thì mới có thể marketing và bán đại trà. Xe hơi BMW thì không thể nào “cho khắp Việt Nam” giống Coca cola được.

Hãy ghi nhớ: Đừng tham lam, hãy sáng suốt lựa chọn cho thương hiệu của mình một vài phân khúc thị trường phù hợp và tập trung toàn lực vào việc đáp ứng nhu cầu phân khúc ấy. Và rồi thành công sẽ sớm đến với bạn.

Nguồn doanhnhan.net
Những nhân tố lãnh đạo tuyệt vời dường như bất biến về mặt thời gian và không ngừng được mở rộng về mặt không gian. Từ thời thượng cổ, cả thế giới luôn khát khao tìm kiếm những nhà lãnh đạo lớn. Trong quãng thời gian chiến tranh và hỗn loạn, các nhà lãnh đạo lớn thường xuất hiện để vạch ra con đường dẫn đến hoà bình. Trong quãng thời gian của sự hoà bình và thịnh vượng, các nhà lãnh đạo lớn vẫn cần để duy trì hệ thống trật tự hay tìm ra các hướng đi phát triển mới.

Các nhà lãnh đạo lớn luôn nhận được sự ngưỡng mộ từ mọi người. Nhưng làm thế nào chúng ta phân biệt được những nhà lãnh đạo thực thụ từ vô khối những con người khác nhau?

Nguyên lý bắt nguồn từ thời cổ xưa và vẫn đứng vững qua những trải nghiệm thời gian. Các nhà lãnh đạo lớn luôn tiến thẳng về phía trước, xây dựng các hướng đi, đảm bảo trật tự và chỉnh sửa các khiếm khuyết hay quy định khi cần thiết. Không dừng lại ở đó, họ là những người giàu tình cảm với các nhân viên. Các nhà lãnh đạo lớn khao khát sống cuộc sống của họ để phục vụ những nhu cầu của mọi người.

Điểm đáng thú vị là khi quan tâm tới những nhà lãnh đạo đáng kính trên thế giới và trong lịch sử loài người, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy một hình ảnh tương đồng giữa những người chăn cừu và nhà lãnh đạo tài ba.

Không quá khó khăn để miêu tả các tính cảnh của một nhà lãnh đạo theo hình ảnh người chăn cừu. Có rất nhiều điều chúng ta có thể học hỏi được từ sự so sánh này.

Bằng việc khảo sát những tính cách, đặc điểm và tầm nhìn theo phương thức người chăn cừu, chúng ta có thể chuyển tiếp tới một cấp độ năng lực lãnh đạo mới:

1. Người chăn cừu nhận ra đàn cừu không thể làm bất cứ điều gì anh ta muốn

Anh ta hiểu rằng đàn cừu không phải một công cụ, một phương tiện để anh ta tự ý xử lý mà là nguồn trách nhiệm mà anh ta cần quan tâm, chăm sóc. Anh ta được trao quyền, được tin tưởng bởi một người khác, và rõ ràng phải trả lời trước một người có thẩm quyền lớn hơn.

Là một nhà lãnh đạo hiệu quả, anh ta hiểu rõ không chỉ những gì cấu thành nên một nhà lãnh đạo mà cả những gì phải phục tùng và quan tâm tới nữa. Việc hiểu và chấp nhận chu trình này sẽ trau dồi và củng cố các tính cách của một nhà lãnh đạo tài năng.

2. Đàn cừu nghe thấy, nhận ra và đi theo giọng nói của người chăn cừu

Hết sức tự nhiên, mọi người có xu hướng đi theo những gì quen thuộc. Lòng tin sẽ phát triển mạnh theo những kinh nghiệm có được từ các mối quan hệ tốt đẹp. Chúng ta thường nghe thấy rằng sự thân mật rất dễ dẫn tới sự bất tuân lệnh, nhưng nó cũng dẫn tới lòng tin tưởng và với thời gian cùng sự kiên trì, nó sẽ đem đến các mong đợi.

3. Người chăn cừu biết rất rõ đàn cừu và anh ta có thể nhớ tên từng con cừu một

Người chăn cừu sử dụng một hệ thống âm thanh, gõ lách cách và huýt gió để gọi đàn cừu. Những âm thanh này là khác biệt cho từng con cừu trong đàn và mỗi con cừu nhận ra và phản hồi theo từng âm thanh riêng biệt với nó.

Trong lãnh đạo, những sự quan tâm chân thành và gần gũi luôn được mọi người nhận rõ. Đương nhiên nhà lãnh đạo sẽ đạt được các kết quả tuyệt vời. Mối quan hệ với các nhân viên chính là chìa khoá – không một người chăn cừu nào có thể làm việc tốt mà không ở bên cạnh những con cừu.

4. Người chăn cừu luôn dẫn dắt đàn cừu tới những nơi an toàn nhất và có nhiều lợi ích nhất, đồng thời tránh xa mọi nguy hiểm

Về chiến lược, người chăn cừu ra ngoài chuồng trước đàn cừu nhằm xác định và tránh xa các tai hoạ và rồi đưa đàn cừu tới chỗ an toàn. Trong bất cứ trường hợp nào, anh ta cũng giữ vai trò dẫn dắt. Anh ta không bao giờ mong đợi đàn cừu sẽ gặp phải những hoàn cảnh mà anh ta không sẵn sàng đương đầu.

Người lãnh đạo kinh doanh cũng vậy. Anh ta luôn dẫn dắt nhân viên tới những nơi an toàn và nhiều ích lợi nhất. Nhà lãnh đạo phải có khả năng nhận diện các rủi ro và biết cách phòng tránh chúng.

5. Người chăn cừu luôn sẵn lòng đặt những nhu cầu cấp bách và sức khoẻ của đàn cừu lên trước nhu cầu của bản thân mình

Sức khoẻ tốt của đàn cừu là vô cùng quan trọng với người chăn cừu. Mục đích khác thường này đã khích lệ các quyết định của anh ta luôn hướng tới lợi ích của đàn cừu trước tiên. Cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, người chăn cừu luôn được chuẩn bị để “hy sinh tính mạng bản thân” cho đàn cừu.

6. Có sự khác biệt giữa những đôi tay làm thuê và người chăn cừu

Những đôi tay làm thuê được khích lệ bởi các đồng tiền công. Còn người chăn cừu có mối quan tâm sâu xa và chân thành tới đàn cừu của anh ta. Anh ta là người chịu trách nhiệm cho những gì không phải của anh ta – theo đúng sự lựa chọn của anh ta. Và mối quan hệ của anh được đặc trưng vởi sự hiện diện lâu bền và xuyên suốt cho dù có hay không có tiền công.

Vào mọi thời điểm, người chăn cừu luôn sẵn lòng hy sinh cuộc sống của anh ta cho đàn cừu. Anh ta là một nhà lãnh đạo thực thụ đối với những người tưởng ở anh ta.

Người chăn cừu thực thụ hiểu rõ sự khác biệt quan trọng giữa sức mạnh (yếu tố đè nặng lên vai nhà lãnh đạo) với thẩm quyền (yếu tố thể hiện trách nhiệm và năng lực giải trình với cấp có quyền lực cao hơn).

Chắc chắn rằng, bức tranh người chăn cừu và hình ảnh nhà lãnh đạo tuy rất đơn giản, nhưng nó để lại nhiều bài học sâu sắc cho nghệ thuật quản lý ngày nay.

Theo bwportal.com.vn
Ở công ty nọ, để thử việc nhân viên, họ đưa ra tiêu chí: mỗi nhân viên thử việc đều phải bán được 1000 chiếc lược cho một nhóm khách hàng được chỉ định - là các nhà sư - trong một tuần.

Thử thách kỳ quái này khiến cho hầu hết người xin việc đều nghi ngờ: Bán lược cho sư ư? Sao có thể làm được?

Đa số đều từ bỏ, chỉ có ba người dám chấp nhận thử thách. Một tuần thử thách kết thúc, người thứ nhất bán được một chiếc, người thứ hai bán được 10 chiếc còn người thứ ba đã bán sạch

1000 chiếc, cùng một hoàn cảnh, song kết quả lại khác xa, công ty bèn mời ba người thuật lại quá trình bán hàng của mình.

Người thứ nhất kể, anh ta đến một ngôi chùa, phải chịu các nhà sư mắng mỏ mà vẫn nhẫn nại, cuối cùng, một hoà thượng động lòng, mua cho anh ta một chiếc lược.

Người thứ hai kể, anh ta lên một ngôi chùa trên núi, do gió núi mạnh, khiến cho tóc của thiện nam, tín nữ lên chùa rối tung hết cả. Anh ta liền tìm đến sư trụ trì chùa và nói “Người dâng hương tóc tai bù xù, trông không được thành kính với Phật lắm, Trước mỗi toà hương, nhà chùa nên đặt một chiếc lược cho thiện nam tín nữ chải tóc”. Thấy có lý, sư trụ trì liền mua lược cho anh ta, vì chùa có 10 toà hương nên anh ta đã bán được 10 chiếc lược.

Còn người thứ ba tìm đến một ngôi chùa có tiếng, hương khói quanh năm không dứt. Anh ta nói với phương trượng: “Phàm những người dâng hương ai cũng có lòng thành, chùa ta nên có vật phẩm tặng lại để khuyến khích người đời làm việc thiện. Tôi có một số lược, ngài có thể dùng thư pháp hơn đời của mình, khắc nên đó ba chữ “Lược Tích Thiện” làm tặng phẩm”. Phương trượng nghe có lý liền mua cho anh ta 1000 chiếc.

Công ty nọ đánh giá ba người đến thử việc tiêu biểu cho ba mẫu người điển hình:

- Người thứ nhất thuộc mẫu bán hàng cổ điển, có ưu điểm chân thành, nhẫn nại
- Người thứ hai có năng lực quan sát, suy đoán sự vật, dám nghĩ, dám làm.
- Còn người thứ ba, anh ta nghiên cứu, phân tích nhu cầu của đám đông, có ý tưởng táo bạo, có kế hoạch khả thi nên đã mở ra một nhu cầu mới của thị trường. Điều kỳ diệu là sau khi lược tích thiện của anh ta ra đời, một đồn mười, mười đồn trăm, người đến chùa dâng hương ngày càng nhiều, hương khói trong chùa ngày càng thịnh. Phương trượng bèn ký hợp đồng dài hạn với anh ta. về phía công ty, thu hoạch lớn nhất không phải có được hợp đồng lớn mà có được người tài năng. Nhờ có trí tuệ hơn người đó mà anh ta đã được công ty quyết định tuyển dụng và quyết định bổ nhiệm làm giám đốc marketing.

Như vậy hiểu được nhu cầu của khách hàng, phân tích tính quy luật của sự hình thành và tác động chuyển hoá nhu cầu tiềm tàng thành sức mua chính là chìa khoá để mang lại thành công.

Theo vietnambranding.com
Nói một cách ngắn gọn nhất, nhiệm vụ của Marketing là làm sao biến được nhu cầu muốn thay đổi của khách hàng trở thành các cơ hội thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, người làm marketing phải có khả năng xác định và vạch ra các nhu cầu/ước muốn của khách hàng tiềm năng, xác định khả năng thu lợi từ thị trường, xác định các mặt hàng/dịch vụ cần sản xuất/cung cấp và cuối cùng là kêu gọi tất cả mọi người trong doanh nghiệp cùng hướng tới việc phục vụ/thỏa mãn khách hàng.

Quảng cáo (Advertising) và Quan hệ công chúng (Public Relation – PR) chỉ là hai trong số nhiều công cụ mà người làm Marketing cần chú ý. Có rất nhiều người nhập nhằng ba khái niệm này với nhau. Ngoài quảng cáo và quan hệ công chúng, người làm Marketing còn phải làm các công việc khác như nghiên cứu thị trường, xác định chính sách giá, xác định chính sách hậu mãi …

John Wanamaker đã từng có một câu nói nổi tiếng như sau “I know that half the money I spend on advertising is wasted; but I can never find out which half.” (Tôi biết rằng một nửa chi phí quảng cáo tôi bỏ ra là lãng phí, có điều tôi không sao biết được đó là nửa nào). Quảng cáo thường chỉ được dùng để tạo ra sự nhận thức ngắn gọn về mặt hàng mới hoặc sự thay đổi khi tái tung (relaunch) lại mặt hàng cũ. Quảng cáo không thể đứng yên một mình vì nó không thực hiện nhiệm vụ bán hàng mà phải có người bán hàng chuyên nghiệp làm việc này. Một sản phẩm càng tốt, có tỷ lệ khách hàng trung thành càng cao thì càng ít phải quảng cáo.
Nói đến một chiến dịch quảng cáo tốt thì cần nói tới 5 chữ M khi làm quảng cáo :

A. Mission : nhiệm vụ cần làm của quảng cáo trước một quyết định mua của khách hàng

1. Inform : thông báo tới khách hàng thông tin về sản phẩm
2. Persuade : thuyết phục khách hàng tới mua hàng
3. Remind : nhắc nhở khách hàng về các thông tin trên (do vậy quảng cáo thường được lặp lại nhiều lần)
4. Reinforce : tăng cường cho sự thuyết phục về sản phẩm

B. Message : thông điệp bằng lời, bằng hình ảnh gắn liền với đặc điểm khác biệt của sản phẩm nhằm mô tả rõ và cuốn hút về đặc điểm này

C. Media : môi trường tốt nhất để có thể tiếp cận được nhiều khách hàng với chi phí rẻ nhất. Có rất nhiều môi trường để quảng cáo như báo chí, TV, radio, quảng cáo ngoài trời, email, banner, Social Ads… nhưng bạn phải xác định rõ đâu là môi trường mà ở đó bạn có thể tiếp cận với khách hàng một cách dễ nhất trước khi thực hiện quảng cáo

D. Money : số tiền cần thiết để đạt được mục tiêu. Một chiến dịch quảng cáo không có mục tiêu là chiến dịch quảng cáo thất bại và lãng phí ngay từ đầu.

E. Measurement : bao gồm việc đo đếm trước khi quảng cáo và sau khi quảng cáo. Để thực hiện quảng cáo tốt, bạn cần chạy thử quảng cáo cho một nhóm nhỏ khách hàng hoặc một vài nhóm nhỏ khách hàng để tối ưu quảng cáo. Sau khi chạy chiến dịch quảng cáo xong, bạn cần phải đo lường hiệu quả dựa trên các mục tiêu đã đặt ra trước đó để xem chiến dịch này thành công hay thất bại.

Quảng cáo và PR rất hay bị nhầm với nhau. Nói nôm na về sự khác biệt của quảng cáo và PR thì có thể nói như sau “Tôi có một cái bánh ngon, tôi đi nói với tất cả các bạn tôi về chiếc bánh này, đó là quảng cáo. Nếu bạn tôi tự đi nói với nhau về chiếc bánh thì đó là PR”. Nói cách khác nếu quảng cáo là việc bạn cố gắng nhồi nhét thông tin sản phẩm của bạn vào đầu người tiêu dùng (bằng cách trả tiền) thì PR là việc bạn phải cung cấp thông tin đó đủ hay, đủ sáng tạo để người tiêu dùng tự nói chuyện, tự giới thiệu cho nhau bằng các thông tin mà bạn cung cấp. Nôm na như Kotler nói thì quảng cáo là cái bạn “pay for” (trả tiền) còn PR là cái bạn làm để “pray for” (với hy vọng rằng mọi người sẽ nhận ra điểm tốt của bạn và nói với nhau).

Một trong những cách để tóm gọn về PR là sử dụng các công cụ được gọi tắt là PENCILS nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng và giúp họ tự nói chuyện với nhau. PENCILS bao gồm :

- Publications : Chế bản được phát hành như báo chí, sách vở… Nếu bạn không trả tiền nhưng vẫn được các phóng viên đánh giá tốt hoặc được các tác giả viết sách đánh giá tốt về sản phẩm thì đó là thước đo tốt nhất cho việc bạn làm PR tốt.

- Events : Tổ chức các sự kiện để nói rõ thêm về sản phẩm. Sự kiện này là các sự kiện tự nguyện (bạn không thể ép người ta đến như ép người ta xem quảng cáo ở giữa phim được).

- News : Các thông tin tốt được các phóng viên nhắc tới trong bản tin hàng ngày một cách tự nguyện.

- Community Affairs : Quan hệ cộng đồng bao gồm cộng đồng online và cộng đồng offline. Quan hệ cộng đồng cần một chính sách lâu dài, bền vững và chân thành. Không ai muốn làm bạn với một người chỉ xuất hiện dồn dập khi người đó có tiền và chỉ nói những điều người đó muốn nói (như quảng cáo). Quan hệ cộng đồng tốt giúp cho việc nghiên cứu sản phẩm, thị trường cũng như việc giới thiệu, hậu mãi về sản phẩm tốt hơn rất nhiều.

- Identity Media : Các vật phẩm có liên quan tới công ty như business card, phong bì, áo mưa … Các vật phẩm này giúp cho người có được chúng nhận diện rõ nét về công ty bạn qua logo, màu sắc, hình ảnh quen thuộc.

- Lobbying : Các chiến dịch vận động hành lang một cách bài bản, chuyên nghiệp và đúng luật.

- Social Investment : Đầu tư để cải thiện xã hội. Mục tiêu của các hạng mục đầu tư này là để đóng góp vào việc cải thiện môi trường xã hội nơi bạn đang kinh doanh và sẽ rất tốt nếu khía cạnh đầu tư của bạn có liên quan tới mặt hàng của bạn.

Như vậy, trước khi thực hiện chiến dịch PR hoặc Advertising và rộng hơn là Marketing, bạn cần phân biệt rõ ràng sự khác nhau, mục tiêu và cách thức hành động để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp của mình.

Nguồn tapchimarketing.vn
| Copyright © 2013 Trái Đất Mũi