CMS là Content Management System dịch sang tiếng việt là hệ thống quản trị nội dung.

Vậy CMS chính xác là gì? Tại sao phải cần đến CMS?

Trước tiên, chúng ta bàn về quá trình phát triển một trang web. Bạn chỉ cần có kiến thức về HTML bạn đã tạo ra một trang web với nội dung và hình ảnh có thể chạy trên internet.

Khi bạn biết về xHTML, CSS, nội dung trang được bạn trang trí đẹp hơn, bố cục gọn gàng chuyên nghiệp cộng với một số hiệu ứng bắt mắt hơn.

Như vậy bạn có thể xây dựng một website hoàn toàn bằng xHTML và CSS, khách hàng muốn website của họ có bao nhiêu trang gồm những nội dung và hình ảnh gì, bạn đều có thể đáp ứng được. Bạn có thắc mắc vì sao lại xuất hiện ngôn ngữ lập trình, rồi CMS làm gì cho thêm phức tạp không!??

Xí muội: Bạn đã nghe qua 2 thuật ngữ web tĩnh và web động chưa?

Cù lần: Ồ, àh.. thì tĩnh nghĩa là không động, còn động nghĩa là không tĩnh đúng không???

Hột mít: Giải thích vậy cũng đòi la lớn, nghe tớ này… động nghĩa là trang web đó có mấy cái hình chạy chạy, chữ nhảy múa, rồi ba chớp ba nháy. Còn tĩnh thì là mấy cái chữ đứng yên một chỗ, mấy cái hình nằm im lìm!!?

Cù lần: #$%*&@

Hột mít: +@#(%R#@

Xí muội: ^ - *

Chắc bạn biết chuyện gì đang xảy ra rồi đó… đừng nhầm lẫn bạn nhé. Khái niệm động, tĩnh trong phát triển web nói về nội dung hay dữ liệu của trang web có thể thay đổi được không!?

- Web tĩnh bao gồm đầy đủ nội dung, hình ảnh, hiệu ứng nhưng khách hàng của bạn sẽ không thể thay đổi bất kỳ chi tiết nào nếu không biết về kỹ thuật. Nghĩa là sau khi bàn giao trang web cho khách hàng, nếu cần thay đổi gì họ sẽ phải nhờ bạn hoặc sẽ thuê kỹ thuật viên làm việc này.

- Một trang web được gọi là động khi nội dung, hình ảnh hiển thị trên trang web đều có thể thay đổi, cập nhật được mà không cần đến kỹ thuật viên. Chẳng hạn công ty cần cập nhật những tin tức về hoạt động kinh doanh, ngân hàng tại một thời điểm muốn huy động vốn, cần đăng tin thông báo những ưu đãi đến khách hàng, v.v… Hoặc đơn giản trang tin tức như vnexpress.net, tuoitre.com.vn cần cập nhật thông tin hàng ngày. Lúc này ‘trọn gói website tĩnh khuyến mãi kỹ thuật viên đẹp trai, giỏi html và css, đặc biệt đánh máy nhanh’ cũng không còn hiệu quả và thiếu tính khoa học, chưa kể khi lượng thông tin quá lớn, phải cập nhật liên tục từng giờ từng phút, khi đó độ chính xác sẽ không được đảm bảo.

Do đó rất cần có một hệ thống đảm trách công việc này, thời đại công nghệ thông tin ai lại để con người làm những công việc quá thủ công như thế phải không bạn!!? hệ thống đó gọi là hệ quản trị nội dung, chính là Content Management System gọi tắt là CMS.

Tóm lại,

Website tĩnh

Việc tạo trang web dễ dàng.

Nội dung tĩnh, muốn thay đổi phải cần đến kỹ thuật viên gây phiền toái đến khách hàng.

Khó bổ sung chức năng, cũng như tùy biến mã nguồn (code).

CMS


Chứa nhiều đoạn mã phức tạp hơn, phải cài đặt database và tạo template riêng.

Nội dung động, người cập nhật nội dung không cần kiến thức kỹ thuật, mang lại sự tiện dụng cho khách hàng.

Được phát triển có hệ thống nên dễ thêm chức năng và tùy biến.


Nguồn kaylaximuoi.com
Google PageRank hiện nay được coi là chỉ số đáng tin cậy nhất đánh giá giá trị mỗi trang web. Một trang web có chỉ số Google PageRank cao sẽ đem lại ấn tượng đáng tin cậy cho khách truy cập, điều này đặc biệt có ý nghĩa với các website kinh doanh thương mại điện tử.

Google PageRank là gì:

- Google PageRank hiện là chỉ số đáng tin cậy nhất chỉ giá trị của một trang web, không chỉ bởi những thuật toán xuất sắc dựa trên hơn 100 chỉ số mà còn vì Google đánh giá và xếp hạng các trang web bằng cả hai phương pháp tự động và thủ công.

- Một vài chỉ số quan trọng quyết định Google PageRank của một trang web: độ hữu dụng của thông tin trên trang web, độ phổ biến của trang web, chất lượng kỹ thuật,…

- Google PageRank được chia làm 10 bậc và được biểu hiện bằng vạch màu xanh trên nền trắng: Google PageRank image. Giá trị của mỗi trang web theo Google PageRank tăng dần từ 1 đến 10.

- Thuật ngữ PageRank™ là một thương hiệu được bảo hộ của Google, do Larry Page Sergey Brin phát triển tại trường đại học Stanford của Mỹ trong một dự án nghiên cứu về công cụ tìm kiếm năm 1995.

Google PageRank mang lại những lợi ích gì?

- Google PageRank hiện nay được coi là chỉ số đáng tin cậy nhất đánh giá giá trị mỗi trang web. Một trang web có chỉ số Google PageRank cao sẽ đem lại ấn tượng đáng tin cậy cho khách truy cập, điều này đặc biệt có ý nghĩa với các website kinh doanh thương mại điện tử.



- Google PageRank ảnh hưởng trực tiếp tới vị trí hiển thị của mỗi trang web khi cạnh tranh thứ hạng hiển thị trong danh sách kết quả tìm kiếm của Google. Nếu bạn muốn website của mình tăng thứ hạng trong danh sách kết quả tìm kiếm của Google, hãy nâng cao Google PageRank cho các trang web trong website của bạn.

- Google PageRank là một công cụ hỗ trợ các webmaster quản trị website. Đồng thời, một trang web có Google PageRank cao phần nào chứng minh năng lực quản trị tốt của webmaster website đó.

Làm thế nào để xem Google PageRank của một trang web?

- Bạn có thể sử dụng Google Toolbar – thanh công cụ hỗ trợ người dùng duyệt web:

- Hoặc bạn có thể kiểm tra Google PageRank trực tuyến tại các máy chủ của Google:

Làm thế nào để tăng Google PageRank?

- Về cơ bản, theo các chuyên gia của Google: “Không được sử dụng các phương pháp giả tạo, hãy tạo ra các trang web cho mọi người chứ không phải cho các công cụ tìm kiếm”

- Cấu trúc website, cấp bậc cần rõ ràng, nội dung thông tin cần phong phú, hữu ích. Website không được chứa các liên kết lỗi, các lỗi HTML, lỗi câu lệnh.

- Đăng ký website vào Open Directory ProjectYahoo Directory!, cũng như các website chất lượng khác.

Alexa Rank là gì?

- Alexa Rank là thước đo mức độ phổ biến của các website. Chỉ số thứ hạng của mỗi website được Alexa kết hợp đánh giá từ 2 yếu tố là số trang web người dùng xem (Page Views) và số người truy cập website (Reach).

- Các số liệu thống kê của Alexa dựa trên những dữ liệu thu thập từ người dùng cài đặt Alexa Toolbar. Cứ 3 tháng 1 lần, Alexa tiến hành tổng kết số liệu và xếp hạng các website.

- Alexa Toolbar là một tiện ích giúp người dùng lướt web, hiện có khoảng hơn 10 triệu người dùng Internet trên thế giới sử dụng công cụ này.

Tăng thứ hạng Alexa mang lại những lợi ích gì?

- Chỉ số thứ hạng Alexa của một website cao được hiểu là website đó có đông người truy cập, phần nào đem lại cho website ấn tượng sống động và uy tín.

- Trong thị trường quảng cáo trực tuyến, Alexa Rank có thể được sử dụng để đánh giá giá trị quảng cáo.

- Chỉ số Alexa rank là thước đo ghi nhận thành quả lao động của các webmaster với cộng đồng và là một công cụ rất hữu ích giúp các webmaster quản trị website hiệu quả.

Làm thế nào để xem thứ hạng Alexa?

- Bạn có thể sử dụng Alexa Toolbar – thanh công cụ hỗ trợ người dùng duyệt web:
- Trực tiếp tại trang chủ

Làm thế nào để tăng thứ hạng Alexa cho website?

- Bạn nên tiến hành các chiến dịch quảng bá website định kỳ nhằm thường xuyên thu hút khách truy cập website, tăng cao chỉ số Reach.

- Trong website, nên có các phần thông tin có giá trị cao, cập nhật để thu hút khách hàng thường xuyên quay lại website, tăng Page views.

- Bạn cần bố trí nội dung, cấu trúc website sao cho thu nhận được thật nhiều cú nhấp chuột của khách truy cập để tăng Page views nhưng vẫn mang lại cảm giác thoải mái, tiện lợi.

Theo thietkewebmienphi.com
Joomla là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở (Tếng Anh : Open Source Content Management Systems . Joomla được viết bằng ngôn ngữ PHP và kết nối tới cơ sở dữ liệu MySQL , cho phép người sử dụng có thể dễ dàng xuất bản các nội dung của họ lên Internet hoặc Intranet.

Joomla có các đặc tính cơ bản là: bộ đệm trang (page caching) để tăng tốc độ hiển thị, lập chỉ mục, đọc tin RSS (RSS feeds), trang dùng để in, bản tin nhanh, blog, diễn đàn, bình chọn, lịch biểu, tìm kiếm trong Site và hỗ trợ đa ngôn ngữ.

Joomla được phát âm theo tiếng Swahili như là 'jumla' nghĩa là "đồng tâm hiệp lực".

Joomla được sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ những website cá nhân cho tới những hệ thống website doanh nghiệp có tính phức tạp cao, cung cấp nhiều dịch vụ và ứng dụng. Joomla có thể dễ dàng cài đặt, dễ dàng quản lý và có độ tin cậy cao.

Joomla có mã nguồn mở do đó việc sử dụng Joomla là hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người trên thế giới.

Theo joomla.edu.vn
Computer & Internet càng ngày càng phát triển một cách nhanh chóng vào đời sống chúng ta. Tuy nhiên có một số đề tài phổ biến không được rõ ràng cho lắm, có lẽ vì thiếu thông tin ... nên đôi khi chúng ta bị vài trở ngại nhỏ gặp phải. Trong bài sưu tầm này, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn nhằm giúp quý vị hiểu biết thêm Computer & Internet.

1. Virus là gì?

Đây là một program được những tên hackers tạo ra để phá hoại computer chẳng hạn như PC cũng như server. Virus rất nguy hiểm, nó có thể làm ngưng sự hoạt động của chương trình nào đó, hoặc phá hủy đi memory của máy PC hoặc server.
Có loại virus chỉ làm thay đổi nhẹ màn hình (screen) nhằm mụch đích “đùa giỡn”, nhưng cũng có thứ … phá huỷ toàn bộ tài liệu trong hard-disk mà nó tìm thấy. Một số loại virus khác lại còn có khả năng nằm chờ … đến đúng ngày giờ đã định, nó mới phát tán và làm PC ngưng hoạt động.
Tùy theo khả năng hay phạm vi hoạt động, người ta có nhiều cách phân loại virus. Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra vài loại mà chúng ta thường gặp nhất:

a) Virus qua e-mail:

Đại đa số các virus ngày nay thuộc vào lớp này. Lý do là virus có thể tự tìm ra danh sách các điạ chỉ e-mail và tự nó gửi đi hàng loạt (mass mails) và có thể gây hại hàng triệu máy computers và làm tê liệt nhiều cơ quan trên toàn thế giới trong thời gian vô cùng ngắn.

Nhược điểm thứ nhất của loại virus này là chúng ta có thể loại bỏ dễ dàng vì nó được gửi dưới dạng đính kèm (attached mail). Do đó ngưòi dùng sẽ không bị nhiểm virus … cho tới khi nào virus đính kèm được mở ra. Do đặc điểm này, các con virus thường được “trá hình” bởi các đề tài thật hấp dẫn như SEX, thể thao, miễm phí, hay dụ khị bán nhu liệu (software) với giá vô cùng rẻ…

Nhược điểm thứ nhì của loại virus này là self executable file, qua trung gian của những file có extension như: dll, exe, bat, vxd...

Cách tốt nhất là đừng bao giờ mở các file đính kèm trong e-mail qua những địa chỉ lạ, hoặc địa chỉ người quen mà chủ đề rất lạ, trừ khi quý vị biết rõ 100% là nó không chứa virus.

Lưu ý: Quý vị nào đang hiện dùng Outlook 95 hoặc cũ hơn, nên cần phải cẩn thận để tránh lầm tưởng một file có extension là .txt.exe và .txt (vì khi đó sự điều hành tự động dấu đi cái extention “khỉ” exe). Thay vi nhìn thấy tên là “love.txt.exe” thì người đọc chỉ nhìn thấy “love.txt” và lầm rằng đó chỉ là ký tự nhưng kỳ thực nó là “con virus tình”.

b) Virus qua Internet:

Khác với loại qua e-mail, virus loại này thường ẩn mình trong các chương trình lậu (illegal) hay các chương trình miễn phí (freeware, shareware...). Thật ra không phải chương trình lậu hay chương trình miễn phí nào cũng có virus, nhưng một số tay hắc đạo (hacker) lợi dụng tâm lý “ham đồ rẻ, miễn phí, download lậu” này để bỏ virus vào.

Loại này thường hay nằm dưới dạng .exe và nhiều khi trong .zip file.

Đừng bao giờ nhấn nút OK mà không cần biết mình đã làm gì!!! Phải kiểm chứng những chú em này qua viện Pasteur?@#! (nhu liệu Anti-Virus) trước khi nhấn nút OK.

c) Các virus cổ điển:

Con Virus đầu tiên là phát minh của 1 thiếu niên ở Anh. Nó chỉ truyền được qua internet, CD/DVD ROM, ZIP/ZAP disk, hay băng từ… Con virus nổi tiếng trong lich sử computer loại này có tên là là Stealth. Nó có khả năng thay đổi ngay cả chức năng của BIOS. Ngày nay, Stealth vẫn còn nhưng đã được biến dạng (hiện đại hoá … virus) thành một trong hai loại kể trên.

Cách phòng ngừa tốt nhất để tránh virus:

Cần một nhu liệu chống virus, hiện nay có hai nhà sản xuật nổi tiếng nhất đó là NortonMcAfee. Đôi khi mua với rebate và upgrade, quý vị cảm thấy không tốn xu-ten nào. Chỉ tốn tiền thuế, stamp, bìa thư ... mà thôi!

Nên update thường xuyên bằng cách set-up tự động theo sự hướng dẫn. Có nghĩa là khi nào nhà sản xuất có thông tin mới về virus, thì máy PC của quý vị tự động update ngay ở hậu trường (behind the scenes) trong lúc quý vị đang dùng máy PC.

Không connect với bất kỳ máy khác và share hard-disk cho bất cứ ai.

Thường xuyên backup (hàng ngày hoặc hàng tuần tùy theo sử dụng) vào CDs, DVDs... và cất riêng một chỗ để lỡ ngày sau khi ta gặp mấy nàng virus còn có chỗ mà phục hồi.

2) Spam Mail?

Đây là các email thường chứa các loại quảng cáo được gửi một cách vô tội vạ và nơi nhận là một danh sách rất dài gửi từ các cá nhân hay các nhóm người và nội dung của loại thư này thường thấp. Đôi khi, nó dẫn dụ người nhẹ dạ, tìm cách đọc số thể tín dụng và các tin tức cá nhân của họ.

Các thư gửi từ Woodard, whonysald, tara crisp, serena555, Serena Mcclain, Santiago Ritchie, Pearl Mayers, nplroeom rrsi, Nina Garcia, cũng như những emails từ Anh Quốc, Phi Châu dụ khị là trúng số, hoặc cho gia tài của người chết... là các “Spam mail

Khi hình ảnh sản phẩm nào đó cứ đập vào mắt mình mãi thì đến lúc cần mua một thứ nào đó tương tự hay cùng loại thì chính hình ảnh quảng cáo của cái spam mail sẽ hiện đến trong óc chúng ta trước tiên. Hoặc giả đôi khi "lỡ tay" hay chỉ vì tò mò mà chúng ta bấm vào (click) vào cái link và thế là "lưới nhện đã giăng sẵn chỉ chờ con mồi ...."

Spam mail không làm hại đến computer, chỉ làm chúng ta bực mình khó chịu khi thấy chúng tự động pop-up lên.

Một chữ gần nghiã với Spam mail là Junk mail. Junk mail chỉ khác spam mail ở chỗ là nội dung của nó không phải là quảng cáo (nhằm làm cho Internet bi tắt nghẽn chẳng hạn???) và được gửi đi từ địa chỉ một hộp thư.

Cách chế ngự:

Một số các nơi cung cấp email cũng đã có sẵn filter để loại bỏ các spam mail này trước khi tới tay người nhận một cách chủ động, nhưng dĩ nhiên là không hoàn toàn 100%.

Một số khác (như là MS Outlook version 2000 hay mới hơn) cho phép chúng ta cài lại một số dấu hiệu và loại bỏ spam mail qua các thực đơn sẵn có.

Nhu liệu chống spam mà một số nhà sản xuất đã tung ra thị trường để giúp người tiêu dùng. Tuy nhiên, không phải nhu liệu nào được bán ra thị trường cũng hoạt động hữu hiệu! Hiện nay, nhu liệu chống spam tốt nhất đó là công ty Norton, McAfee AntiSpam, và Qurb 2.0.

Xử dụng WEB mail. Thay vì dùng các mail box miễn phí thì hãy dùng các dịch vụ cung cấp email qua Internet. Bằng cách này thì người chủ mail tưởng chừng đã "bán cái" trách nhiệm lọc spam mail cho các dịch vụ cung cấp. Nhưng khổ nổi là không chắc dịch vụ nào cũng chịu "Quảy gánh" lo dùm cho quý vị. Trong các dịch vụ kiểu này thì có Mailblocks Extended Servivce khá hữu hiệu (nhưng thủ tục "đầu tiên" thì không ít; giá 9.95USD trong 1 năm cho hộp thư 15MB và 24.95USD trong 1 năm cho hộp thư 100MB).

Một số chính phủ do áp lực của người dân, trong đó tiên phong là Hoa Kỳ đã có biện pháp mạnh mẽ hơn để bảo vệ người tiêu dùng bằng cách ra các đạo luật phạt khắc khe các cơ sở hay cá nhân dùng spam mail. Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là: 3/4 các spam mail lại không được gửi ra trong nước mà là chúng đến từ những nơi chưa có lệnh cấm!!!!

Hiện tại đang có nhiều nỗ lực để phát triển những tiêu chuẩn về mail mới ngõ hầu chấm dứt tình trạng này.

3) Spyware & Adware (chương trình gián điệp?) là gì?

Ðây là loại nhu liệu chuyên thu thập các thông tin từ các máy chủ (thông thường vì mụch đích thương mại) qua mạng Internet mà không có nhận thức của chủ máy. Một cách điển hình, Spyware được cài đặt một cách bí mật như là một bộ phận kèm theo của các chương trình freewareshareware mà người ta có thể đưa về từ Internet. Một khi nhu liệu đã cài đặt, spyware điều phối các hoạt động của máy chủ trên Internet và lặng lẽ chuyển các dữ liệu thông tin đến một máy khác (của những tay hacker dĩ nhiên!) Spyware cũng thu thập tin tức về điạ chỉ e-mail và ngay cả mật khẩu cũng như là số thẻ tín dụng!!

Tác hại:

Ngoài các vấn đề nghiêm trọng về đạo đức và tự do cá nhân bị xâm phạm, Spyware còn đánh cắp từ máy chủ các tài nguyên của memory resource rồi nó gửi thông tin trở về chủ của các spyware qua Internet vàcó thể dẫn tới hư máy..

Bởi vì là một chương trình độc lập nên Spyware có khả năng điều khiển các keystroke, đọc các tin tức trong hard-disk, kiểm soát các ứng dụng khác như là chương trình chat hay chưong trình soạn thảo văn bản, cài đặt các spyware mới, đọc cookies thay đổi trang nhà trên WEB browser, cung cấp liên tục các thông tin trở về chủ của Spyware và có thể dùng nó cho quảng cáo hoặc tiếp thị hay bán tin tức cho các chỗ khác.

Dấu hiệu máy bị spyware:

Bất kỳ một trong các dấu hiệu sau đây xảy ra cũng có thể là máy của quý vị đã bị ... Spyware!!!

Nhận email với giấy biên nhận trả tiền điện thoại có thêm số trả phụ trội mà quý vị chẳng bao giờ gọi tới số đó, như: bắt đầu bằng 900.

Khi gõ tìm một điạ chỉ trên Internet Explorer và nhấn Enter để bắt tìm kiếm thì trang "search" thường dùng bị thay bởi 1 trang search lạ.

Các program chống Spyware không hoạt động được. Nó có thể báo lỗi mất những file cần thiết, ngay cả sau khi cài đặt trở lại thì cái chương trình chống Spyware cũng không hoạt động được.

Thấy những tên điạ chỉ lạ trong danh sách Favorites mặc dù quý vị chưa hề đặt nó vào trong mục này.

Máy tự nhiên chạy chậm hơn thường nhật. Nếu là Windows 2K hay XP hãy thử chạy Task Manager và nhấn processes thì thấy những process không quen biết dùng gần như 100% CPU.

Một cái "seach toolbar" (băng tìm kiếm) hay "browser toolbar" xuất hiện mặc dù quý vị không hề cài đặt nó và không thể xoá chúng hay là chúng xuất hiện trở lại sau khi xoá.

Quý vị nhận 1 pop-up quảng cáo khi cái "browser" chưa hề được chạy và ngay cả khi máy chưa connect với Internet hay là quý vị được các quảng cáo có đề tên quý vị trong đó.

Trang nhà bị đổi một cách kỳ lạ. Quý vị đổi nó lại nhưng nó lại bị sửa ...

Ở thời điểm mà quý vị không hề làm gì với internet mà vẫn thấy đèn gửi/nhận chớp sáng trên dial-up hay board band modem giống như là khi đang download phần nhu liệu nào về máy. Hay là các hiện tượng network/modem nhấp nháy nhanh khi quý vị không hề vào internet.

Dấu hiệu cuối cùng, mọi thứ hình như trở về bình thường. Những Spyware mạnh thường không để dấu tích gì cả. Nhưng hãy kiểm lại máy của mình ngay cả trong trường hợp này.

Phòng ngừa:

Trong các bản giao kèo về bản quyền xử dụng (License Agreement) của các công ty cho download đôi khi có nói rõ rằng họ sẽ cài spyware chung với nhu liệu. Những cái giao kèo này thường ít được chúng ta đọc hoàn tất một cách kỹ lưỡng và cũng bởi vì các lưu ý về cài đặt spyware thường nằm trong những đoạn khó thấy (chữ nhỏ xíu không đọc chết ráng chịu!). Do đó trước khi download về máy bất kỳ một nhu liệu nào hãy đọc kỹ các điều luật này.

Hãy dùng nhu liệu chống Spyware. Kiểm nghiệm (scan) thường xuyên để loại bỏ spyware. Restart lại máy và chạy kiểm lại lần nữa sau mỗi lần lại được Spyware mới để chống sự tái nhiễm. Nên làm vài lần trong tuần.

Phải có chương trình chống virus và tường lửa (firewall) cho máy (chương trình tường lửa miễn phí ở www.sygate.com, www.zonelabs.com ...)

Coi chừng các dịch vụ peer-to-peer chia sẽ chung các tin tức (peer-to-peer files sharing service). Hầu hết các ứng dụng thông dụng sẽ có spyware trong các thủ tục cài đặt. Tránh download các nhu liệu tầm bậy mà chúng ta không biết ngoại trừ chúng được cung cấp từ các nhà sản xuất lớn hay các trang website "tốt".

Coi chừng các cookies; các dữ liệu thu thập bởi các cookies có thể trùng lặp với các thông tin ở 1 nơi nào đó để cung cấp những thông tin của quý vị một cách đáng ngạc nhiên. Quý vị có thể download chương trình Cookie Cop 2 từ trang www.pcmag.com/utilities để kiểm soát các cookie.

Hãy sửa mức an toàn của browser cao lên ít nhất là medium và không cho phép cài đặt tất cả các "ActiveX control" mà quý vị chưa yêu cầu.

Spyware có thể đến từ các HTML e-mail. Hãy thẳng tay delete những email mà quý không biết rõ xuất xứ và không hề có liên lạc, hoặc email có địa chỉ quen thuộc nhưng chủ đề rất lạ (do tụi hackers gửi đi). Nếu dùng Outlook 2003, dùng Tools -> Options -> Security tab -> chọn "change Automatic Download Settings". Kiểm chắc rằng quý vị đã chọn "Don't download pictures or other content automatically in HTML email".

Hiện nay có một số nhu liệu miễn phí chống mấy chú em này, tuy không 100% nhưng cũng được 80 đến 90%. Trong đó là: Ad Aware, Spybot, Spyware Doctor, Windows Defender...

Download nhu liệu chống Spyware & Adware tại đây
Theo tqlcvn.org
1. URL là gì?

- Lý thuyết: URL Là chữ viết tắt của “Uniform Resource Locator”, dùng để chỉ tài nguyên trên Internet. Sức mạnh của web là khả năng tạo ra những liên kết siêu văn bản đến các thông tin liên quan. Những thông tin này có thì là những trang web khác, những hình ảnh, âm thanh… Những liên kết này thường được biểu diễn bằng những chữ màu xanh có gạch dưới được gọi là anchor. Các URL có thể được truy xuất thông qua một trình duyệt (Browser) như IE hay Netscape.

- URL chỉ hiểu ngắn gọn một cách thuần Việt là đường dẫn. Đường dẫn ở đây các bạn chỉ cần nắm là được cấu tạo bởi 5 thành phần chính, bao gồm: tên giao thức, dịch vụ World Wide Web (www), tên miền, cổng và phần phụ. Cụ thể hơn:

Tên giao thức (URL scheme): VD: HTTP, FTP, HTTPS [SSL], …
World Wide Web: www (có thể không cần).
Tên miền: Domain (VD: .vncracking.com, viethosting.vn, nvhserver.com, …).
Cổng (port): VD: 80, 2082, 8080, 443, 7777, … (mặc định các browser [trình duyệt] chạy giao thức HTTP ở cổng 80 nên có thể bỏ qua cổng này trên URL).
Phần phụ: Phần phụ là “cái đuôi” đằng sau tên miền và cổng (nếu có) (vd: forums/URL-la-gi-t22460.html).

- Sơ đồ cụ thể hơn về URL:

http://www.congnghe360.info:80/url-la-gi/
\__/ \__/ \_________/ \_/\__________________________/
| | | | |
Giao thức 3W Tên miền Cổng Phần phụ

Một số ví dụ về URL:
+ http://congnghe360.info/
+ http://www.congnghe360.info/
+ https://congnghe360.info/
+ http://congnghe360.info:80
+ http://congnghe360.info:443
+ http://www.congnghe360.info:2082
+ ftp://congnghe360.info/
+ …..

- Một số ví dụ sai về URL, có rất nhiều bạn hiểu sai về URL:
+ .vncracking.com (đây không phải là URL mà là domain).
+ vncracking.com/ (đây không phải là một URL hoàn chỉnh vì nó còn thiếu giao thức).
+ www.vncracking.com (đây cũng không phải là một URL hoàn chỉnh vì nó còn thiếu giao thức).

2. Link là gì?

- Link chỉ hiểu đơn giản là liên kết nên cũng không cần lý thuyết rườm rà làm gì. Tuy nhiên các bạn cũng nên phân biệt giữa Link và URL:
+ Như thế này được gọi là 1 URL: http://www.congnghe360.info/
+ Như thế này được gọi là 1 link: CONGNGHE360.
-> Vậy: Link luôn kèm theo URL.

Theo congnghe360.info
PHP (viết tắt hồi quy "PHP: Hypertext Preprocessor") là một ngôn ngữ lập trình kịch bản hay một loại mã lệnh chủ yếu được dùng để phát triển các ứng dụng viết cho máy chủ, mã nguồn mở, dùng cho mục đích tổng quát. Nó rất thích hợp với web và có thể dễ dàng nhúng vào trang HTML. Do được tối ưu hóa cho các ứng dụng web, tốc độ nhanh, nhỏ gọn, cú pháp giống C và Java, dễ học và thời gian xây dựng sản phẩm tương đối ngắn hơn so với các ngôn ngữ khác nên PHP đã nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ lập trình web phổ biến nhất thế giới.

Đoạn mã sau minh họa giúp cách viết PHP lồng vào các trang HTML dễ dàng như thế nào:
<html>
<head>
<title>Mã mẫu</title>
</head>
<body>
<?php
echo "Chào thế giới PHP!";
?>
</body>
</html>

Thẻ <?php và thẻ ?> sẽ đánh đấu sự bắt đầu và sự kết thúc của phần mã PHP qua đó máy chủ biết để xử lý và dịch mã cho đúng. Đây là một điểm khá tiện lợi của PHP giúp cho việc viết mã PHP trở nên khá trực quan và dễ dàng trong việc xây dựng phần giao diện ứng dụng HTTP.

Ngôn ngữ, các thư viện, tài liệu gốc của PHP được xây dựng bởi cộng đồng và có sự đóng góp rất lớn của Zend Inc., công ty do các nhà phát triển cốt lõi của PHP lập nên nhằm tạo ra một môi trường chuyên nghiệp để đưa PHP phát triển ở quy mô doanh nghiệp.

Nguồn 3c.com.vn
Module là một trong 3 thành phần mở rộng chính của Joomla! Đó là một đoạn mã nhỏ thường được dùng để truy vấn các thông tin từ cơ sở dữ liệu và hiển thị các kết quả tìm được. Nó có thể được nạp vào một vị trí bất kỳ trên template (vị trí left, right, top, bottom... hoặc vị trí do người dùng định nghĩa); có thể hiện trên tất cả các trang của Website hay một số trang được ấn định. Khả năng tương tác giữa người sử dụng và hệ thống thông qua module là hạn chế (chúng ta thường chỉ nhận thông tin trả về).

Module có tên bắt đầu bằng mod_

Chúng ta có các module thông dụng:

- Lastest News (mod_latestnews): Module hiển thị các tin mới nhất
- Popular News (mod_mostreads): Module hiển thị các bài được quan tâm nhiều nhất
- Related Items (mod_related_items): Module hiển thị các bài viết liên quan
- Random Image (mod_random_image): Module hiển thị các ảnh ngẫu nhiên
- Search Module (mod_search): Module công cụ tìm kiếm
- Login Module (mod_login): Module hiển thị form đăng nhập hệ thống
- Stats Module (mod_stats): Module hiển thị các thông tin thống kê về hệ thống
- Menu Module (mod_mainmenu): Module hiển thị các menu của website
- Banners Module (mod_banners): Moudule hiển thị các banner quảng cáo

Theo 3c.com.vn
Web 2.0 là gì? Làm sao phân biệt đâu là Web 1.0 đâu là Web 2.0?

Thuật ngữ "Web 2.0" đang trở nên thịnh hành và có phần được lăng xê quá mức. Thực chất, Web 2.0 có nghĩa là sử dụng web đúng với bản chất và khả năng của nó!

Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả. Khi bổ sung World Wide Web (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web). Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu.

Tuy có một số ngoại lệ nhưng thế giới Web 1.0 (thế hệ web trước Web 2.0) chủ yếu gồm các website "đóng" của các hãng thông tấn hay các công ty nhằm mục đích tiếp cận độc giả hay khách hàng hiệu quả hơn. Nó là phương tiện phát tin hơn là phương tiện chia sẻ thông tin. Chỉ đến gần đây, với sự xuất hiện của nhiều kỹ thuật mới như blog (hay weblog), wiki... web mới trở nên có tính cộng đồng (và cộng tác) hơn và trở nên gần hơn với sự kỳ vọng và khả năng thực sự của nó.

KHÁI NIỆM

Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của OReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004. Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0: "DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0. Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0. Britannica Online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0. v.v...". Sau đó Tim OReilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đúc kết lại 7 đặc tính của Web 2.0:

1. Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng
2. Tập hợp trí tuệ cộng đồng
3. Dữ liệu có vai trò then chốt
5. Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng
4. Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng
6. Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị
7. Giao diện ứng dụng phong phú

Thoạt đầu, Web 2.0 được chú trọng tới yếu tố công nghệ, nhấn mạnh tới vai trò nền tảng ứng dụng. Nhưng đến hội thảo Web 2.0 lần 2 tổ chức vào tháng 10/2005, Web 2.0 được nhấn mạnh đến tính chất sâu xa hơn – yếu tố cộng đồng.

CÔNG NGHỆ

Thực tế, ứng dụng trên web là thành phần rất quan trọng của Web 2.0. Hàng loạt công nghệ mới được phát triển nhằm làm cho ứng dụng trên web "mạnh" hơn, nhanh hơn và dễ sử dụng hơn, được xem là nền tảng của Web 2.0.

Kiến trúc công nghệ của Web 2.0 hiện vẫn đang phát triển nhưng cơ bản bao gồm: phần mềm máy chủ, cơ chế cung cấp nội dung, giao thức truyền thông, trình duyệt và ứng dụng.

Cung cấp nội dung
Bước phát triển đầu tiên và quan trọng nhất hướng đến Web 2.0 đó là cơ chế cung cấp nội dung, sử dụng các giao thức chuẩn hoá để cho phép người dùng sử dụng thông tin theo cách của mình (nghĩa là có khả năng tùy biến thông tin). Có nhiều giao thức được phát triển để cung cấp nội dung như RSS, RDF và Atom, tất cả đều dựa trên XML. Ngoài ra còn có các giao thức đặc biệt như FOAF và XFN dùng để mở rộng tính năng của website hay cho phép người dùng tương tác.

Dịch vụ web

Các giao thức truyền thông 2 chiều là một trong những thành phần then chốt của kiến trúc Web 2.0. Có hai loại giao thức chính là REST và SOAP. REST (Representation State Transfer) là dạng yêu cầu dịch vụ web mà máy khách truyền đi trạng thái của tất cả giao dịch; còn SOAP (Simple Object Access Protocol) thì phụ thuộc máy chủ trong việc duy trì thông tin trạng thái. Với cả hai loại, dịch vụ web đều được gọi qua API. Ngôn ngữ chung của dịch vụ web là XML, nhưng có thể có ngoại lệ.

Một ví dụ điển hình của giao thức truyền thông thế hệ mới là Object Properties Broadcasting Protocol do Chris Dockree phát triển. Giao thức này cho phép các đối tượng ảo (tồn tại trên web) tự biết chúng "là gì và có thể làm gì”, nhờ vậy có thể tự liên lạc với nhau khi cần.

Phần mềm máy chủ

Web 2.0 được xây dựng trên kiến trúc web thế hệ trước nhưng chú trọng hơn đến phần mềm làm việc ở "hậu trường". Cơ chế cung cấp nội dung chỉ khác phương thức cấp phát nội dung động (của Web 1.0) về danh nghĩa, tuy nhiên dịch vụ web yêu cầu tiến trình làm việc và dữ liệu chặt chẽ hơn.

Các giải pháp phát triển theo hướng Web 2.0 hiện nay có thể phân làm 2 loại: hoặc xây dựng hầu hết tính năng trên một nền tảng máy chủ duy nhất; hoặc xây dựng ứng dụng "gắn thêm" cho máy chủ web, có sử dụng giao tiếp API.

CỘNG ĐỒNG

Công nghệ chỉ là "bề nổi" của Web 2.0, chính cộng đồng người dùng mới là yếu tố nền tảng tạo nên thế hệ web mới. Việc chuyển từ "duyệt và xem" sang "tham gia" là cuộc cách mạng thực sự, dĩ nhiên nhờ có sự phát triển công nghệ giúp hiện thực khả năng này nhưng ở đây muốn nhấn mạnh đến hành vi của người dùng đối với web.

Hiện trạng phổ biến của các website thế hệ 1.0 đó là chứa nhiều thứ phiền toái và làm việc chậm chạp, dường như luôn muốn gửi đến người dùng thông điệp: đây là website của chúng tôi chứ không phải của bạn. Căn nguyên của vấn đề có thể là do chủ sở hữu các website cảm thấy họ "cho không" cái gì đó. Đôi khi chủ sở hữu website cho rằng càng làm khó người dùng thì họ càng được lợi! Điển hình như một số site cho bạn đọc đoạn đầu của bài viết rồi yêu cầu bạn phải đăng ký (có phí hay không) để đọc nốt phần còn lại.

Dĩ nhiên, với sự phổ biến của các phần mềm máy chủ, trong đó có cả phần mềm miễn phí như Apache thì người dùng có thể đưa lên web bất kỳ thông tin gì. Tuy nhiên có nhiều yếu tố cản trở: kỹ năng tạo website, hạn chế của nhà cung cấp dịch vụ Internet, việc bảo mật và kiểm duyệt...

Về cơ bản, Web 2.0 trao quyền nhiều hơn cho người dùng và tạo nên môi trường liên kết chặt chẽ các cá nhân với nhau. Giờ đây có nhiều ví dụ cho thấy cộng đồng người dùng có thể đóng góp thông tin giá trị khi họ có phương tiện thích hợp. Wikipedia có lẽ là ví dụ nổi tiếng nhất. Tuy có nhiều học giả không đánh giá cao Wikipedia, nhưng họ quên một điều quan trọng: nó đủ tốt, miễn phí và nhiều người có thể đọc. Ngoài ra còn có những ví dụ khác như các site Reddit và Digg để cho người dùng quyết định thông tin gì là quan trọng, hay del.icio.us cho phép mọi người chia sẻ những địa chỉ web hay.

Web 2.0 cho phép mọi người có thể đưa lên mạng bất cứ thông tin gì. Với số lượng người tham gia rất lớn, đến mức độ nào đó, qua quá trình sàng lọc, thông tin sẽ trở nên vô cùng giá trị. Ở đây có sự tương đồng với thuyết chọn lọc tự nhiên.

KẾT LUẬN

Thật sự, Web 2.0 không phải là cái gì đó hoàn toàn mới mà là sự phát triển từ web hiện tại. Nó vẫn là web như chúng ta dùng lâu nay, chỉ có điều giờ đây chúng ta làm việc với web theo cách khác. Các website không còn là những "ốc đảo" mà trở thành những nguồn thông tin và chức năng, hình thành nên môi trường điện toán phục vụ các ứng dụng web và người dùng.

Không phải là viễn cảnh, Web 2.0 đã hiện hữu quanh chúng ta với hàng loạt website thế hệ mới. Xu hướng chuyển đổi sang Web 2.0 đang diễn ra mạnh mẽ và là xu thế tất yếu.

Theo saga.vn
Bạn đã thực sự hiểu rõ về khái niệm mạng 4G?

Dù khái niệm 4G đã xuất hiện từ cách đây vài năm, nhưng cho đến CES 2011 mới diễn ra, công nghệ 4G mới thực sự được nhiều người trên thế giới quan tâm với sự ra mắt của hàng loạt các thiết bị di động nổi tiếng như HTC Evo Shift, Motorola Atrix hay Samsung Infuse.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những khái niệm cơ bản nhất xung quanh 4G.

4G là gì?

Đầu tiên, 4G là viết tắt của cụm từ Fourth Generation – tức là thế hệ thứ 4 của công nghệ truyền thông không dây. Nó cũng tương tự như 2G (thế hệ thứ 2) và công nghệ 3G (thế hệ thứ 3) đang được triển khai rộng rãi ở Việt Nam.
Ngược dòng quá khứ, thuật ngữ 1G dùng để chỉ thời điểm bùng phát mạnh mẽ các thiết bị di động cầm tay, tiếp sau đó là thuật ngữ 2G, thế hệ mà người dùng chuyển sang hệ thống số với điểm nhấn là sự ra đời của tin nhắn văn bản (text messaging). Sau đó, mạng điện thoại 3G mang đến nhiều sự đổi mới to lớn hơn như khả năng truy cập mạng internet tốc độ cao, lướt web dễ dàng, các dịch vụ gia tăng phong phú.

Giờ đây, công nghệ 4G cũng đang được phát triển và áp dụng để phù hợp với yêu cầu truyền tải dữ liệu của các ứng dụng đang ngày một phát triển không ngừng trên nền tảng 3G.

Nói ngắn gọn, những dịch vụ nặng và đang được ưa chuộng bởi khách hàng, ví như HDTV, chơi game trực tuyến qua điện thoại... đã khiến mạng 3G không thể đáp ứng được triệt để. Bởi vậy, 4G chính là câu trả lời cho vấn đề này.

Cho đến thời điểm hiện tại, nhiều người đã biết đến khái niệm mạng 4G nhưng xét cho cùng, thế hệ tiếp theo của mạng viễn thông không dây này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Tính đến thời điểm tháng 4 năm 2010, số mẫu điện thoại sử dụng mạng 4G vẫn chỉ đếm được trên đầu ngón tay (nổi bật nhất là HTC EVO 4G của nhà mạng Sprint – Mỹ).
Mới đây, ITU (International Telecommunication Union – Liên minh Viễn Thông Quốc tế) đã chính thức công bố những tập hợp yêu cầu công nghệ để cấu thành nên một mạng 4G. Theo đó, không có bất kỳ một mạng 4G nào đang tồn tại ở Mỹ hoặc đâu đó trên thế giới có thể đạt tiêu chuẩn (chủ yếu là về tốc độ).

Mặc dù vậy, ITU cũng cho biết hiện chỉ có duy nhất 2 công nghệ chính đang trong quá trình phát triển và có thể được phân loại như 4G. Đó là công nghệ LTE-Advanced và WiMax 2. Cả 2 đều là phiên bản cải tiến của những công nghệ mà các nhà mạng đang áp dụng và gọi chúng là 4G. Cả LTE-Advanced và WiMax 2 sẽ khó có thể ra mắt sớm, chí ít là đến cuối năm 2011 hoặc thậm chí là 2012. Có thể khi ra mắt, chúng sẽ được gọi với cái tên 4.5G hoặc 5G. Tuy nhiên, nói như vậy có nghĩa rằng các công nghệ đang được áp dụng hiện nay (ám chỉ LTE và WiMax) không phải là 4G thực.
Theo như ITU, chỉ những công nghệ thỏa mãn tiêu chuẩn mà tổ chức này đưa ra mới được công nhận là IMT-Advanced và mạng 4G. Trong đó, mạng 4G phải có khả năng trao đổi dữ liệu với tốc độ lên đến 100Mbps. Để thấy được mức độ của yêu cầu này, hãy nhớ đến mạng 3G hiện nay với tốc độ truyền tải 3.84Mbps.

Dù chưa thỏa mãn được yêu cầu nghiêm ngặt mà ITU đưa ra, nhưng các nhà mạng như Sprint và Verizon vẫn gọi công nghệ của mình là 4G. Lý do là vì tốc độ mà hệ thống này mang lại cao hơn hẳn so với 3G.

Vậy, lợi ích mà mạng 4G mang lại là gì?

Không bàn đến tốc độ của 4G vì thế hệ cao hơn thì hiển nhiên phải có tốc độ truyền tải dữ liệu lớn hơn thế hệ trước. Vậy, 4G có gì hấp dẫn hơn so với 3G?
Đầu tiên, phải kể đến khả năng của mạng 4G khi nó cho phép người dùng truy cập internet từ máy tính để bàn mà không cần phải có dây nối. Nếu như bạn cảm thấy mệt mỏi vì những giới hạn tốc độ gói cước mà nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP – Internet Service Provider) đưa ra, bạn sẽ cảm thấy vui mừng khi biết rằng sẽ không có giới hạn nào cho mạng 4G (tất nhiên là chỉ có giới hạn cực đại).

Tiếp theo, mạng 4G sẽ lấy người dùng là tâm điểm. Bạn có thể truy cập internet gần như ở mọi nơi, thậm chí cả khi đang di chuyển.

4G đã có chưa?
Câu trả lời là có. Hệ thống mạng 4G đã được triển khai mạnh nhất ở Mỹ (tất nhiên là theo cách gọi của nhà mạng, không phải 4G chuẩn theo ITU). Trong đó, Sprint dùng công nghệ WiMax, Verizon Wireless dùng LTE (Long Term Evolution) và T-Mobile áp dụng HSPA+, một công nghệ 3G với tốc độ... 4G. Tuy nhiên, mạng của Verizon có thể đạt tốc độ lý thuyết 5-12Mbps, WiMax của Sprint là 3-6Mbps, cách quá xa so với con số 100Mpbs yêu cầu bởi ITU.

Cước phí của 4G ra sao?
Về cước phí, mạng 4G có vẻ hấp dẫn hơn so với 3G. Gói cước trung bình khoảng 50$ 1 tháng cho 5GB và 80$ cho 10GB sử dụng. Và nếu sử dụng quá lưu lượng, bạn sẽ phải trả thêm 10$ phụ trội trên mỗi GB sử dụng.

Tóm lại, với sự ra mắt hàng loạt của các thiết bị di động sử dụng 4G, viễn cảnh 4G phát triển và người dùng được tận hưởng mạng di động tốc độ cao sẽ không còn xa nữa.

Theo thuthuat.easyvn.net
(Traidatmui.com) - Nếu bạn là người say mê internet, đam mê kiếm tiền từ một thế giới ảo thì chắc hẳn đã một lần nghe nói đến thuật ngữ MMO (Make money online), đây là hình thức kiếm tiền khá phổ biến và phát triển hiện nay. Tuy nhiên bạn có hiểu rỏ hết về MMO là gì? Các hình thức của nó là sao chưa? Bài viết này mình xin chia sẽ một chút kiến thức cơ bản về MMO để các bạn cùng tham khảo.

1. MMO là gì ?

MMO = Make money online . Những người làm MMO : Money maker online

- MMO là các hình thức kiếm tiền + tăng thu nhập thông qua môi trường Internet. MMO phát triển mạnh vào đầu TK 21 đến nay và phổ biến ở Mỹ, các nước Châu Âu dựa vào sự phát triển mạnh mẽ của Internet

2. Ưu điểm của MMO :

- Chủ yếu làm việc thông qua Internet
- Không phải gặp gỡ trực tiếp
- Có thể tận dụng thời gian rảnh.
- Làm việc trên toàn cầu
- Bất kể khoảng cách địa lý, chênh lệch thời gian

3. Các hình thức MMO :

A. Hình Thức Phổ Biến:

Offer(Paid to sign up)/Survey : Tham gia trả lời khảo sát ,quảng cáo để lấy tiền.
PTC : paid to click : Tham giia click banner quảng cáo của các website .
PTR : paid to read : Tham gia đọc mail kiếm tiền.
PTP : Paid to post : post bài cho các forum lấy tiền.
PTU : paid to upload: upload kiếm tiền
Autosurf : xem nội dung trang web kiếm tiền.
Google Adsense : Quảng cáo cho google kiếm tiền, dành cho những bạn có website hay blog.
Affiliate Marketing : Môi giới , quảng cáo bán hàng kiếm tiền

- Đây là các hình thức cơ bản với số tiền kiếm được rất ít, đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và có nhiều scamer ( lừa) . Bù lại các hình thức này không đòi hỏi nhiều kỹ năng và phí đầu tư ban đầu. Các hình thức này tương đối phổ biến nên đem lại ngộ nhận cho nhiều người về lĩnh vực kiếm tiền trên mạng ( ít tiền, mất thời gian, dễ bị lừa.)

B. Hình Thức Rủi Ro Cao :

HYIP : Đầu tư sinh lời theo kiểu đánh đề( lời nhiều nhưng dễ bị lừa )
Sports Betting : Cá cược kiếm tiền.
Poker : chơi bài kiếm tiền ( cờ bạc bịp )
- Với các hình thức này , tỉ lệ Scam là hơn 90%, rất nhiều người trắng tay vì những hình thức này.

C. Hình Thức Cao Cấp :

Affiliate Marketing: là một bên độc lập thực hiện quảng cáo, quảng bá hàng hóa, dịch vụ của Advertiser để nhận được tiền công hoa hồng. Publisher cho hiển thị các banner, link text, hình ảnh của sản phẩm, dịch vụ trên Website, trong các Email khuyến mãi, hoặc danh mục kết quả tìm kiếm của họ. Publisher được trả tiền hoa hồng từ Advertiser có chương trình họ đang tham gia khi Khách thực hiện một hành động nào đó như Click vào link quảng cáo (Click), điền mẫu thông tin, đăng ký thành viên (Lead) hoặc mua hàng trực tuyến (Sale).

Nguồn tổng hợp
AMOLED - Active Matrix Organic Light Emitting Diode - là công nghệ màn hình diode phát quang hữu cơ ma trận động. Đây được xem là công nghệ chế tạo màn hình cao cấp nhất hiện nay dành cho các thiết bị di động. Công nghệ AMOLED có lịch sử gắn liền với sự phát triển của màn hình diode phát quang hữu cơ (tức OLED).

Lịch sử OLED bắt nguồn từ những công nghệ sơ khai vào những năm 1950, sau đó trải qua rất nhiều thử nghiệm và nghiên cứu, những thiết bị diode đầu tiên được phát triển thành công bởi tiến sĩ Chin W. Tang (Công ty Eastman Kodak) và Steven Van Slyke đã làm nền tảng cho công nghệ OLED hoàn thiện ngày nay.

AMOLED sử dụng các pixel OLED gắn trên một tấm film bán dẫn mỏng (TFT) nhằm tạo nên một ma trận pixel, cho phép hiển thị tín hiệu dưới tác động của dòng electron với công dụng tạo nên một loạt các công tắc kiểm soát các pixel.

Bên cạnh các ưu điểm chung của công nghệ OLED là độ mỏng, chất lượng hiển thị hình ảnh cao, AMOLED còn nổi trội hơn với mức tiêu thụ điện năng cực thấp phù hợp với việc ứng dụng trong các thiết bị di động cầm tay như điện thoại, máy ảnh, laptop...

Trên thế giới có nhiều hãng sản xuất thiết bị dùng OLED, trong đó Samsung là một trong những nhà sản xuất hàng đầu về cả công nghệ OLED và AMOLED. Samsung SDI, một phân nhánh của Tập đoàn Samsung được xem là nhà sản xuất OLED lớn nhất thế giới, hiện nay cứ 2 chiếc màn hình OLED, thì trong đó có một chiếc được sản xuất từ Samsung SDI.

Đặc biệt, đối với công nghệ AMOLED, Samsung là công ty đầu tiên nghiên cứu, phát triển cũng như ứng dụng rộng rãi màn hình AMOLED.

Ưu điểm của công nghệ AMOLED

Nếu so với các thế hệ màn hình LCD TFT hay màn hình LED, bạn có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt lớn về chất lượng hiển thị. Trong đó, hai điểm đáng chú ý nhất là độ tương phản và độ no màu.

Màn hình AMOLED cho hình ảnh độ tương phản cao, kéo theo việc gia tăng về độ chi tiết và độ sâu của hình ảnh. Ngoài ra, còn phải kể đến khả năng tái tạo gam màu rộng hơn, hiển thị video tốt hơn nhờ vào thời gian đáp ứng nhanh, góc nhìn rộng.

Bên cạnh đó, màn hình AMOLED không chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường ngoài, nội dung hình ảnh vẫn có thể hiển thị khá tốt dưới điều kiện ánh sáng trực tiếp. Một ưu điểm mà ít ai biết được chính là màn hình AMOLED có khả năng chịu tác dụng lực cơ học tốt hơn so với công nghệ màn hình trước đây, chính vì thế tạo được độ bền cao cho các thiết bị sử dụng.

Tất cả những ưu điểm nói trên tỏ ra rất phù hợp cho việc ứng dụng vào các thiết bị di động như điện thoại, máy ảnh, máy quay, laptop. Nhưng hơn hết, nhà sản xuất và cả người dùng đều thấy được những ưu điểm vượt trội của công nghệ AMOLED khi được ứng dụng vào điện thoại đặc biệt là những mẫu điện thoại màn hình cảm ứng cao cấp với kích thước màn hình lớn.

Chính công nghệ AMOLED đã tạo nên một thế hệ điện thoại mới có màn hình đẹp chưa từng thấy, đơn cử như sản phẩm dẫn đầu hiện nay là Omnia HD, những clip HD được thể hiện hoàn hảo với độ phân giải cao, không bị lóa dưới nguồn sáng mạnh và đặc biệt là ưu điểm thời gian đáp ứng nhanh đã giúp chiếc điện thoại này trở thành một công cụ xem phim mini hoàn hảo.

Một trong những ưu điểm được xem là vượt trội nữa của công nghệ AMOLED chính là khả năng tiết kiệm điện năng tiêu thụ. Năng lượng được xem là yếu tố sống còn trên các thiết bị di động, với công nghệ AMOLED, điện năng tiêu thụ được xem là đạt mức tối thiểu, với màn hình LCD kích thước lớn 3inch, 3,5inch, 4inch... đặc biệt ngốn pin, nhưng với công nghệ AMOLED có thể thấy lượng điện năng tiêu thụ giảm từ 40 đến 50%.

Theo vietnamplus.vn
Power

Biểu tượng chỉ dẫn làm việc trên máy tính quen thuộc với người sử dụng hằng ngày, nhưng ít ai biết về nguồn gốc của chúng.

Biểu tượng này vốn rất nổi tiếng. Nó đã được in lên áo T-Shirt và là nút đầu tiên bạn phải ấn khi dùng máy tính. Thậm chí biểu tượng này còn được in trên nhãn của bao cao su NYC.

Vào thế chiến thứ II, các kỹ thuật viên đã sử dụng hệ nhị phân để biểu hiện trạng thái của các nguồn điện cho những khoá chuyển mạch. Họ sử dụng ký tự 1 để biểu thị trạng thái ON và ký tự 0 để biểu thị trạng thái OFF. Năm 1973, Uỷ ban Kỹ thuật điện quốc tế IEC (International Electrotechnical Commission) đã quyết định kết hợp hai ký tự này lại trở thành một biểu tượng với vòng tròn khuyết và một đường thẳng nằm bên trong để biểu thị trạng thái “nghỉ” (standby).

Viện kỹ sư điện và điện tử Mỹ IEEE (International Electrotechnical Commission) quyết định coi biểu tượng này là tượng trưng cho “điện năng”. Từ đó cho đến nay, rất nhiều thiết bị điện tử đã sử dụng biểu tượng này cho phím nguồn.

Command

Nhiều người sẽ bất ngờ khi biết rằng biểu tượng Command nổi tiếng trên những chiếc máy Mac lại có liên quan tới hoạt động cắm trại của người Thụy Điển. Theo Andy Hertzfedl thuộc nhóm nghiên cứu phát triển Mac, khi nghiên cứu menu các lệnh trực tiếp từ bàn phím, các thành viên trong nhóm đã quyết định sẽ thêm vào một phím chức năng đặc biệt. Ý tưởng rất đơn giản: Khi được nhấn cùng các phím khác, phím này sẽ thực hiện những lệnh tương ứng.

Ban đầu nhóm nghiên cứu quyết định vẫn dùng logo quả Táo nhưng sau đó họ nhận thấy đã có quá nhiều Táo cắn dở trên màn hình rồi. Sau đó Susan Kare đã đưa ra một biểu tượng lấy từ từ điển biểu tượng quốc tế. Biểu tượng này thể hiện một hình bông hoa cách điệu vốn được dùng ở Thụy Điển để chỉ các điểm cắm trại. Ngoài ra thì biểu tượng này còn là vòng lặp Gorgon, một vòng lặp không kết thúc và trong bảng mã Unicode, nó có nghĩa là “điểm thu hút sự chú ý”. Từ đó, biểu tượng Command vẫn được sử dụng trên các máy Mac cho đến ngày nay.

Bluetooth

Bạn có biết rằng biểu tượng Bluetooth quen thuộc trên máy tính lại có liên quan tới câu chuyện về vị vua Đan Mạch Harald Blåtand ở thế kỷ thứ 10?.

Ông vua này nổi tiếng vì thích ăn việt quất (blueberry) đến nỗi nhiều người tin rằng ít nhất một cái răng của vị vua này có màu xanh không thể tẩy được. Biểu tượng Bluetooth chính là sự kết hợp của hai ký tự chữ Rune cổ thể hiện hai chữ cái đầu tên của vua Harald. Ban đầu biểu tượng Bluetooth cũng có hình dạng giống một chiếc răng.

Ngoài ra, công nghệ Bluetooth có ý nghĩa khác liên quan với vị vua người Đan Mạch. Vua Blåtand vốn nổi tiếng về khả năng thương lượng và hòa giải, giúp các bên nói chuyện được với nhau. Chính vị vua này đã giúp Na Uy, Đan Mạch và Thụy Điển chấm dứt chiến tranh với nhau. Cũng như vậy, công nghệ Bluetooth giúp các thiết bị khác nhau có thể giao tiếp như giữa máy tính với điện thoại và xe hơi”.

USB

Biểu tượng USB là một sự cách điệu chiếc đinh ba quyền năng Dreizack của thần biển Neptune. Nhưng thay cho ba mũi nhọn hình tam giác ở đầu ngọn giáo thì những người sáng lập ra chuẩn USB đã thay bằng một hình tam giác, một hình vuông và một hình tròn. Sự thay đổi này hàm ý nhiều thiết bị ngoại vi khác nhau đều có thể tương thích với chuẩn kết nối này.

Play/ Pause

Các biểu tượng Play/Pause không có nguồn gốc từ máy tính mà xuất phát từ các đàn organ điện tử, các máy chơi nhạc và tất cả các thiết bị có tính năng chơi nhạc hoặc video. Cả hai biểu tượng tam giác quay bên phải và biểu tượng hai thanh đứng song song đều không có một nguồn gốc rõ ràng.

Hai biểu tượng này xuất hiện đầu tiên trên máy chơi băng từ vào giữa những năm 1960. Biểu tượng Play có dạng đầu mũi tên quay sang bên phải chỉ đơn giản thể hiện chiều quay của băng từ. Còn nếu có hai biểu tượng tam giác quay cùng hướng sang trái hay sang phải chỉ đơn giản là băng quay nhanh hơn theo chiều tương ứng.

Nhiều người cho rằng biểu tượng Pause diễn tả ký hiệu một kết nối hở trên sơ đồ điện. Một số khác cho rằng biểu tượng này chỉ đơn giản là biểu tượng Stop bị cắt bớt ở giữa. Nhưng có một giả thiết chắc chắn hơn: biểu tượng Pause bắt nguồn từ dấu im lặng trong nhạc lý (dấu caesura, calmo hoặc calmato) với biểu tượng là hai gạch chéo song song.

Sleep

Biểu tượng Sleep biểu thị trạng thái không phải ON mà cũng không phải OFF của một thiết bị điện tử. Ban đầu IEC sử dụng biểu tượng Power ngày nay (một vòng tròn cắt đứt bởi 1 gạch) để biểu thị trạng thái Standby.

Sau khi bị IEEE chiếm dụng biểu tượng này để làm biểu tượng Power, một cơ quan chính phủ Mỹ đã quyết định đổi tên thành trạng thái “Sleep”. Biểu tượng trăng lưỡi liềm Sleep ngày nay đã được sử dụng rộng rãi ở châu Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, tại Nhật đôi khi bạn sẽ bắt gặp nút bấm có chữ Zzzz.

@ (At)

Biểu tượng @ là biểu tượng duy nhất trên máy tính lọt được vào bộ sưu tập thiết kế và kiến trúc của Bảo tàng nghệ thuật đương đại (MoMa). Biểu tượng này đã có một quá trình phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.

Biểu tượng @ này vốn có rất nhiều tên gọi: ốc sên (ở Pháp và Italy), chuột nhỏ (Trung Quốc) và đuôi khỉ (tại Đức). Năm 1971, Raymond Tomlinson lập trình viên của hãng Bolt, Beranek & Newman đã quyết định thêm một biểu tượng giữa địa chỉ thư điện tử để phân tách tên người dùng và địa chỉ máy chủ.

Trước đó, biểu tượng @ được gắn trên các bàn phím American Underwood vào năm 1885 với vai trò là một phím tắt biểu thị ý nghĩa là “với tỷ lệ”. Nhiều người lại cho rằng biểu tượng @ có từ thế kỷ thứ 6, khi các thầy tu thấy đó là một cách viết tốt hơn của từ “tại” (at) hoặc “hướng tới” (toward) trong tiếng La tinh.

Firewire

Năm 1995, một nhóm nhỏ các nhà phát triển chuẩn FireWire của Apple quyết định tạo ra một biểu tượng có thể phản ánh công nghệ mà họ tạo ra.

Các nhà nghiên cứu tạo ra chuẩn FireWire với mong muốn tạo ra một kết nối tốc độ cao cho âm thanh và video kỹ thuật số. Chính vì vậy họ đã chọn một biểu tượng có 3 đầu đại diện cho dữ liệu, âm thanh và hình ảnh. Ban đầu biểu tượng này có màu đỏ nhưng sau đó chuyển sang màu vàng mà chưa tiết lộ nguyên nhân rõ ràng.

Quả bóng xoay nhiều màu trên Mac OS

Biểu tượng này được biết tới với rất nhiều tên: vòng xoay thôi miên, vòng xoay tử thần, pizza quay, bóng chuyền bãi biển tử thần (SBBOD – spinning beach ball of death).

Apple chính thức gọi nó là con trỏ xoay khi chờ nhưng hầu hết người dùng Mac đều ghét nó. Biểu tượng này xuất hiện khi một ứng dụng nào đó bị treo. Biểu tượng này thay thế cho biểu tượng đồng hồ đeo tay “chờ đợi” xuất hiện trên những phiên bản Mac OS đầu tiên.

Nguồn gốc của thiết kế này vẫn còn là bí ẩn nhưng có vẻ Apple bỏ biểu tượng đồng hồ đi là vì nó nhắc nhở người dùng rằng: máy thì đang treo nhưng thời gian vẫn cứ trôi. Dù vậy, biểu tượng bóng xoay này vẫn rất đẹp.

Ethernet

Biểu tượng cổng mạng Ethernet được thiết kế bởi một nhân viên của IBM có tên David Hill.

Theo Hill, biểu tượng này nằm trong bộ các ký hiệu miêu tả các loại mạng nội bộ vào thời điểm đó. Các khối vuông trong hình đại diện cho các máy tính hoặc thiết bị đầu cuối trong mạng nội bộ. Tất cả các thiết bị đó đều nối vào mạng nội bộ và giao tiếp với nhau.
Theo 321dzo.com
(Traidatmui.com) - Bạn đã từng nghe đến Google AdWords, bạn nghe nói có nhiều người sử dụng Google AdWords như một công cụ quảng cáo đắc lực nhưng bạn có biết Google AdWords là gì? Seotopgoogle sẽ giúp bạn!

Google AdWords là cách quảng cáo dễ dàng và nhanh chóng trên Google và đối tác quảng cáo của Google, bất kể ngân sách của bạn nhiều hay ít. Quảng cáo AdWords hiển thị bên cạnh kết quả tìm kiếm trên Google, cũng như trên trang web tìm kiếm và nội dung trong Mạng Google đang phát triển, bao gồm các trang web như AOL, EarthLink, HowStuffWorks, & Blogger. Với các tìm kiếm trên Google và số lần xem trang trên Mạng Google mỗi ngày, quảng cáo trên Google AdWords của bạn sẽ tiếp cận được một số lượng lớn đối tượng.
Khi tạo quảng cáo AdWords để chạy trên Google và đối tác tìm kiếm của Google, bạn có thể chọn từ khoá để hiển thị quảng cáo của mình và xác định số tiền tối đa bạn sẵn sàng trả cho mỗi nhấp chuột. Bạn chỉ trả khi có ai đó nhấp chuột lên quảng cáo của mình.

Google Adwords là gì ?
Google Adwords là gì ?

Khi tạo quảng cáo AdWords chạy trên Mạng Nội dung, bạn có thể chọn chính xác vị trí nội dung nơi bạn muốn quảng cáo của mình xuất hiện hoặc có thể để nhắm mục tiêu theo ngữ cảnh phù hợp từ khoá với nội dung. Bạn có thể trả cho mỗi nhấp chuột (CPC) hoặc cho mỗi 1000 lần người khác xem quảng cáo của bạn (được gọi là giá thầu CPM).
Để tiết kiệm thêm tiền, Công cụ Giảm giá của AdWords sẽ tự động giảm chi phí mỗi lần nhấp thực (hoặc CPC) vì vậy bạn chỉ phải trả chi phí thấp nhất cần để duy trì vị trí quảng cáo. Công cụ Giảm giá của AdWords vẫn hoạt động cho dù bạn chọn phương pháp hiển thị hay đặt giá thầu nào.

Nguyên tắc hoạt động của Google Adword như sau:

- Nhà tài trợ xác định từ khóa mà mình muốn quảng cáo trên Google.
- Đăng ký quảng cáo từ khóa đó với Google và các đại lý của Google.
- Mỗi khi có một khách hàng click vào mẫu quảng cáo của nhà tài trợ trên trang liệt kê tìm kiếm thông tin của Google, nhà tài trợ sẽ phải trả 1 khoản tiền tương ứng để đổi lại việc có 1 khách hàng viếng thăm website ( số tiền này được các nhà tài trợ đấu giá trước ).

Mục đích cuối cùng

Google Adwords mang lại giá trị cho bạn!
Nguồn seotopgoogle.net
(Traidatmui.com) - Việc làm chủ bàn phím và các chức năng có liên quan sẽ giúp người sử dụng cải thiện hiệu suất làm việc, chúng tôi đã khái quát về 20 phím tắt sử dụng trong Windows. Và trong bài viết sau, chúng tôi tiếp tục giới thiệu 20 phím tắt tiện lợi thường xuyên sử dụng trong Mac OS X.

Dùng trong Menu:

Fn + phím mũi tên: thay thế cho chức năng của Home/End và PageUp/PageDown của PC. So sánh tương ứng, mũi tên Left – Home và Right – End, mũi tên Up – PageUp và Down – PageDown.

Fn + Delete: xóa ký tự ở bên phải con trỏ, giống như nút Delete trên PC.

Ctrl + F12: di chuyển qua lại trên Menubar. Bạn có thể dùng phím mũi tên qua lại để lựa chọn, nhấn Enter để sử dụng.
Ctrl + F3: di chuyển tới phần Dock, tương tự như trên, các bạn dùng phím mũi tên để chọn ứng dụng, sau đó nhấn Enter để mở chương trình.
Ctrl + Cmd + D: hiển thị cửa sổ từ điển khi bạn chọn 1 đoạn text bất kỳ. Chỉ việc di chuột qua từ đó và nhấn tổ hợp phím tắt trên:
Cmd + Q: tắt chương trình, ứng dụng đang mở.

Opt + Cmd + Escape: mở cửa sổ Force Quit Applications và lựa chọn ứng dụng muốn tắt (tương tự như Ctrl + Alt + Delete của Windows):
Giữ Shift + Cmd + Opt + Esc: bắt buộc đóng những ứng dụng đang mở (chỉ dùng được trong Leopard và Snow Leopard).

Ctrl + Eject: mở hộp thoại Shutdown/Restart/Sleep:
Ctrl + Shift+ Eject: chuyển chế độ màn hình về Sleep ngay lập tức.

Opt + Cmd + Eject: chuyển trạng thái của máy tính về Sleep.

Ctrl + Opt + Cmd + Eject: tắt máy tính ngay lập tức.

Dùng trong Finder:

Enter: đổi tên file đang chọn.
Cmd + O: mở thư mục đang chọn trong chế độ Finder.

Shift + Cmd + N: tạo thư mục mới trong thư mục lưu trữ hiện tại.

Cmd + J: mở bảng điều khiển View Options, tại đây bạn có thể tùy chỉnh, cấu hình các thiết lập cho thư mục chọn trong Finder:
Cmd + I: hiển thị cửa sổ Get Info đối với file/thành phần đang chọn:
Cmd + Delete: xóa file đang chọn (gửi tới Trash).

Shift + Cmd + Delete: xóa toàn bộ dữ liệu trong Trash với thông tin cảnh báo hiển thị cho người sử dụng.

Shift + Opt + Cmd + Delete: “làm sạch” Trash mà không cần thông báo với người sử dụng
Theo Quản Trị Mạng
(Traidatmui.com) - Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về sự khác biệt giữa DirectAccessVPN.

DirectAccess có rất nhiều đặc tính làm cho nhiều người dùng nhầm lẫn với VPN, tuy nhiên sự thật DirectAccess không giống như VPN. Vậy làm thế nào để phân biệt được sự khác nhau giữa chúng. Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn sự khác nhau này bằng cách đặt chúng vào khối cảnh có các kiểu máy khách khác nhau trên mạng, sau đó quan sát các vấn đề kết nối và bảo mật quan trọng đối với mỗi kiểu máy khách này.
Các kiểu máy khách

Để bắt đầu thảo luận này, chúng ta thừa nhận rằng có ba kiểu máy khách nói chung đó là:

* Máy khách “bolted-in” bên trong mạng công ty
* Máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming
* DirectAccess client

Máy khách “bolted-in” bên trong mạng công ty

Các máy khách “bolted-in” bên trong mạng công ty là hệ thống dù có thể hoặc không được “bolted in” đúng nghĩa nhưng nó sẽ không bao giờ tách rời khỏi mạng nội bộ của công ty (có thể hiểu là các máy khách được cột chặt trong mạng công ty). Hệ thống này là một thành viên miền, là một hệ thống luôn được quản lý và không bao giờ bị lộ diện trước các mạng khác. Sự truy cập Internet của mạng này luôn được điều khiển bởi tường lửa kiểm tra lớp ứng dụng, chẳng hạn như tường lửa TMG. USB và các khe cắm truyền thông khác đều bị khóa chặn vật lý hoặc quản trị chặt chẽ, việc truy cập cập lý đến tòa nhà, nơi các máy tính này cư trú chỉ được phép đối với nhân viên và các khách hành tin cậy. Các hệ thống này đều được cài đặt phần mềm anti-malware, được cấu hình qua Group Policy hoặc một số hệ thống quản lý khác nhằm duy trì cấu hình bảo mật mong muốn, Network Access Protection (NAP) được kích hoạt trên mạng để ngăn chặn các hệ thống giả mạo có thể kết nối vào mạng và truy cập vào tài nguyên công ty. Windows Firewall with Advanced Security được kích hoạt và cấu hình nhằm giảm rủi ro trước các mối đe dọa xuất hiện từ worm mạng.

Khái niệm máy khách “bolted-in” trong mạng công ty gần lý tưởng như ý tưởng máy khách an toàn:

* Hệ thống không bao giờ bị lộ trước các mạng không tin cậy.
* Luôn được quản lý.
* Luôn nằm trong tầm kiểm soát của nhóm CNTT trong công ty.
* Việc truy cập được hạn chế cho nhân viên và khách tin cậy.
* Sự truy cập ngoài luồng vào hệ thống sẽ bị hạn chế bởi các cổng cắm ngoài được quản trị hoặc được vô hiệu hóa dưới góc độ vật lý.
* Tường lửa Internet kiểm tra lớp ứng dụng chẳng hạn như TMG sẽ tránh cho người dùng download các khai thác từ Internet.
* NAP giảm rủi ro đến từ các máy khách không được quản lý kết nối với mạng và phổ biến malware thu được từ các mạng khác.
* Không có hiện tượng hệ thống sẽ bị đánh cắp do sử dụng các cách thức vật lý để “bolt in” máy khách với cơ sở hạ tầng vật lý.

Bạn có thể hình dung đây là một hệ thống lý tưởng dưới dạng bảo mật mạng, vậy đặc trưng này thực tế thế nào? Bạn có bao nhiêu hệ thống khách chưa bao giờ rời mạng nội bộ công ty? Và thậm chí nếu có sự kiểm soát thích hợp, các máy này có tránh các tấn công thế nào? Chúng ta cần xem xét các mặt dưới đây:

* Social engineering là một phương pháp tấn công khá phổ biến, phương pháp tấn công này cho phép kẻ tấn công có thể tăng truy cập vật lý vào các máy tính được nào đó đã được mục tiêu hóa để cài đặt malware và Trojan vào các máy tính “bolted-in” trong mạng nội bộ.
* Thậm chí khi các cổng vật lý bị vô hiệu hóa, người dùng vẫn có thể được phép truy cập đến một số ổ đĩa quang học – trong trường hợp malware đã thu được từ một số khu vực bên ngoài có thể tìm ra cách đột nhập vào các máy khách “bolted-in” trong mạng nội bộ.
* Tuy tường lửa thanh tra lớp ứng dụng có thể ngăn chặn malware và Trojan xâm nhập vào mạng nội bộ, nhưng nếu tường lửa không thực hiện hành động kiểm tra SSL (HTTPS), nó sẽ không còn giá trị nữa vì Trojans có thể sử dụng kênh SSL an toàn (không được thanh tra) để đến được các máy trạm điều khiển của chúng. Thêm vào đó, người dùng có thể lợi dụng các proxy nặc danh qua một kết nối SSL không mong đợi.
* Nếu Trojan đã được cài đặt vào máy khách “bolted-in” trong mạng công ty, một Trojan tinh vi sẽ sử dụng HTTP hoặc SSL để kết nối với các bộ điều khiển của nó và hầu như sẽ kết nối với site chưa được liệt vào dạng “nguy hiểm”. Thậm chí nếu tổ chức nào đó đã sử dụng phương pháp danh sách trắng để bảo mật thì kẻ tấn công vẫn có thể chiếm quyền điều khiển (DNS poisoning – giả mạo DNS) và chỉ thị cho Trojan kết nối đến site đó để nó có thể nhận các lệnh điều khiển.
* Nhiều người dùng có thể vòng tránh quyền kiểm soát của bạn nếu họ không thể truy cập vào các site hay truy cập các tài nguyên Internet mà họ mong muốn. Nếu người dùng của bạn đang sử dụng các kết nối không dây, họ có thể dễ dàng hủy kết nối với mạng không dây công ty và kết nối trở lại mạng bằng hệ thống khác để truy cập vào các tài nguyên bị khóa theo chính sách công ty và sau đó lại kết nối trở lại với mạng công ty sau khi họ đã có được những gì mình muốn. Người dùng với kết nối dù không dây hay chạy dây cũng đều có thể cắm wireless adapter để kết nối đến một mạng không được lọc và thỏa hiệp máy tính qua một cổng khác. Trong kịch bản này, máy khách “bolted-in” của mạng công ty vô tình đã nhận một số đặc tính của máy khách truy cập từ xa qua roaming.

Thực hiện bảo mật nhờ cần cù là một bài học không hiệu quả. Những gì tỏ rõ ở đây là, thậm chí có ở trong tình huống lý tưởng đối với các máy khách “bolted in” trong mạng công ty, thì cũng vẫn có rất nhiều thứ có thể không như mong đợi diễn ra và dẫn đến những tai nạn nghiêm trọng về bảo mật. Bạn vẫn cần phải thực hiện mọi thứ để bảo đảm rằng các máy tính của mình được an toàn, cập nhật chúng một cách liên tục cũng như quản lý chúng một cách tốt nhất – tuy nhiên cần đặt mình vào phối cảnh các máy tính được cách ly như thế nào và không thể di chuyển các máy khách trong mạng công ty so với các kiểu hệ thống máy khách khác.

Cuối cùng và có lẽ quan trọng nhất, bạn cần biết rằng có hay không thì khái niệm máy khách “bolted-in” trong mạng công ty có khi chỉ là một mối quan tâm. Có bao nhiêu máy khách này tồn tại trong các mạng công ty ngày nay – đặc biệt các mạng mà ở đó đa số nhân viên là những người có kiến thức? Trong môi trường như vậy, bạn có thể cho rằng VDI là giải pháp có tính khả thi, vì các nhiệm vụ mà họ thực hiện không yêu cầu nhiều chức năng được cung cấp bởi môi trường máy tính đầy đủ, tuy nhiên các nhân viên có kiến thức cần có sự linh hoạt và sức mạnh được cung cấp bởi một nền tảng máy tính hoàn chỉnh. Thêm vào đó, ngày càng nhiều công ty nhận ra sự thuận lợi trong việc truyền thông từ xa và ngày càng nhiều nhân viên làm việc từ nhà hoặc kết nối đến mạng công ty khi đang đi trên đường. Những vấn đề này đã làm nảy sinh cho chúng ta:

Máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming

Vào những năm 1990, việc sử dụng các máy khách “bolted-in” trong mạng công ty là một điều hay gặp. Tuy nhiên đến thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, các nhân viên ngày một cần phải làm việc lưu động và điều đó đã làm xuất hiện các máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming. Nhân viên có kiến thức về máy tính có thể cầm các máy tính laptop cấu hình cao đến nơi làm việc, về nhà, đến các địa điểm của khách hàng, đến khách sạn, các cuộc hội thảo, sân bay,… có thể nói là bất cứ nơi đâu trên thế giới mà ở đó có kết nối Internet. Trong nhiều trường hợp, sau khi truy cập Internet ở nhiều địa điểm khác nhau, họ mang laptop của mình quay trở lại mạng công ty.

Các máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming lại đặt ra một cách thức bảo mật rất khác so với các máy khách “bolted-in” trong mạng công ty. Một điểm giống như các máy khách “bolted-in” trong mạng công ty, các máy tính này là các thành viên miền, được cài đặt phần mềm chống malware, kích hoạt Windows Firewall with Advanced Security và được cấu hình đồng thuận hoàn toàn với chính sách bảo mật công ty. Lúc đầu các máy tính VPN roaming được cung cấp đến người dùng cũng an toàn như các máy khách “bolted-in” trong mạng công ty.

Tuy nhiên trạng thái bảo mật và cấu hình đó không kéo dài được lâu. Người dùng có thể không kết nối với mạng nội bộ công ty qua kết nối VPN nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Hoặc họ có thể kết nối hàng ngày trong khoảng thời gian một hoặc hai tuần, sau đó không kết nối trong khoảng thời gian vài tháng. Trong khoảng thời gian chuyển tiếp, máy khách VPN qua roaming dần dần mất đi sự đồng thuận của mình. Chính sách nhóm Group Policy của công ty không được cập nhật, các nâng cấp chống virus, malware không được cập nhật kịp thời. Các chính sách bảo mật cũng như điều khiển được áp dụng cho các máy khách nằm trong mạng nội bộ công ty có thể không khả thi đối với các máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming vì chúng không thể kết nối qua VPN theo cùng cách.

Việc các máy khách roaming ngày càng không bắt kịp các cấu hình cũng như chính sách an ninh của công ty nên vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng vì máy tính này thường được kết nối với rất nhiều mạng không tin cậy cũng như không an toàn. Các mạng không tin cậy cũng như không an toàn này có thể có rất nhiều worm mạng cũng như các mối hiểm họa khác.

Điều gì sẽ xảy ra khi người dùng mang các máy tính này của họ truy cập trở lại với mạng công ty? Điều gì sẽ xảy ra nếu máy tính của họ bị thỏa hiệp bởi worms, viruses, Trojans hay một kiểu malware nào khác? Mối nguy hiểm có thể được hạn chế nếu bạn kích hoạt Network Access Protection trong mạng, tuy nhiên có bao nhiêu mạng đã kích hoạt NAP, dù chắc năng này đã có sẵn nhiều năm với tư cách là một phần của Windows Server 2008?

Rõ ràng người dùng không nên mang máy tính bị thỏa hiệp trở lại mạng. Giả định một người dùng nào đó đã kết nối máy tính của họ với một số mạng khác nhau và cuối cùng máy tính này đã bị thỏa hiệp. Sau ba tháng anh ta cần thay đổi mật khẩu của mình vì vậy đã thực hiện kết nối thông qua VPN để thay đổi mật khẩu. Trong trường hợp này những hậu quả bảo mật tai hại sẽ tương tự như trường hợp máy tính này được kết nối vật lý với mạng công ty.

Như những gì bạn thấy, việc roaming đã nảy sinh ra rất nhiều vấn đề bảo mật so với các máy khách “bolted in” trong mạng công ty:

* Máy khách roaming thường được kết nối một cách không liên tục với mạng công ty – hoặc đôi khi không kết nối – do đó sẽ không bắt kịp các chính sách an ninh cũng như các hệ thống quản lý khác.
* Bị lộ diện trước các mạng không được quản lý hoặc được quản lý giản đơn, gia tăng “bề mặt tấn công” tiềm tàng so với các máy khách không rời khỏi mạng nội bộ.
* Có thể truy cập Internet và người dùng có thể thực hiện bất cứ thứ gì họ muốn trong khi kết nối Internet vì các máy khách này không bị kiểm tra và lọc các kết nối Internet.
* Nếu máy khách VPN được cấu hình để vô hiệu hóa tính năng split tunneling, nó có thể bị bắt buộc sử dụng các cổng truy cập Internet công ty trong thời gian máy khách kết nối. Mặc dù vậy, khi kết nối VPN bị rớt, người dùng có thể thực hiện những gì họ muốn – có thể chia sẻ bất cứ malware hoặc trojan mà máy tính bị tiêm nhiễm trong khi hủy kết nối khỏi VPN và kết nối trở lại.
* Người dùng có thể tránh kết nối đến VPN vì thời gian đăng nhập chập, kết nối không nhất quán và toàn bộ trải nghiệm VPN kém tối ưu, nhiều rủi ro trong việc không bắt kịp chính sách bảo mật công ty cũng như tăng rủi ro thỏa hiệp.

Máy khách VPN qua roaming vì vậy khác đáng kể so với máy khách “bolted-in” trong mạng công ty ở phối cảnh bảo mật:

* Group policy có thể hoặc không được cập nhật kịp thời.
* Phần mềm anti-virus có thể hay không được cập nhật kịp thời.
* Phần mềm Anti-malware có thể hoặc không được cập nhật kịp thời.
* Các phương pháp quản lý và điều khiển khác có thể hoặc không thể cấu hình lại máy khách kịp thời.
* Số người có thể truy cập vật lý đến các máy tính VPN thường lớn hơn số người có thể truy cập đến các máy tính “bolted-in” trong mạng công ty, không chỉ các thành viên gia đình của người dùng và bạn bè mà còn cả những người đánh cắp máy tính.

Sự khác biệt chính giữa máy khách VPN qua roaming và máy khách “bolted-in” trong mạng công ty là, máy khách VPN thường nằm ngoài quyền kiểm soát và bị lộ diện trước một số lượng lớn các mối đe dọa. Mặc dù vậy, có nhiều cách để giảm nhẹ một số các mối đe dọa này và nhiều công ty đã giới thiệu các phương pháp thực hiện đó, chẳng hạn như:

* Sử dụng mã hóa đĩa (chẳng hạn như BitLocker) để nếu một máy tính nào đó bị mất, kẻ trộm sẽ không thể đọc dữ liệu trong ổ đĩa. Mã hóa đĩa cũng có thể sử dụng phương pháp truy cập bằng cách “khóa” đĩa để khi tắt máy tính người dùng sẽ không thể khởi động khi không có khóa.
* Yêu cầu xác thực hai hệ số để đăng nhập vào máy tính, cùng với đó cũng yêu cầu hai hệ số để mở khóa máy tính cũng như đánh thức chúng.
* Sử dụng NAP hoặc các kỹ thuật tương tự để test bảo mật trước khi máy tính được phép truy cập vào mạng công ty. Nếu máy tính không thể khắc phục, nó sẽ không được phép truy cập vào mạng công ty.
* Không sử dụng các tài khoản quản trị để đăng nhập vào mạng, điều này nhằm ngăn chặn các tấn công nguy hiểm.
* Đặt trung tâm dữ liệu cách biệt về mặt vật lý cũng như logic với toàn bộ máy khách.

Sử dụng một số biện pháp này sẽ giảm được nhiều mối đe dọa tiềm ẩn đối với các máy khách VPN truy cập từ xa. Tuy không thể san lấp mặt bằng so với các máy khách “bolted-in” trong mạng công ty nhưng chúng ta vẫn có một số kịch bản mà ở đó máy khách VPN truy cập từ xa qua roaming có thể giảm bớt được các rủi ro. Chúng ta sẽ đi xem xét một trong trong số phương pháp đó trong phần dưới này.

Máy khách DirectAccess

Chúng ta đang nói đến chủ đề máy khách DirectAccess. Giống như các máy khách VPN, máy tính này có thể di chuyển từ mạng công ty, đến một phòng nào đó trong khách sạn, trung tâm hội thảo, sân bay, hay bất cứ nơi đâu mà một máy tính VPN truy cập từ xa qua roaming có thể tồn tại. Máy khách DirectAccess sẽ được kết nối với cả mạng tin cậy và không tin cậy, giống như máy khách VPN truy cập từ xa, và rủi ro của việc thỏa hiệp vật lý của máy tính cũng tương tự như những gì đã thấy đối với máy khách VPN. Như vậy nếu làm phép so sánh thì máy khách DirectAccess và VPN về cơ bản là giống như trước phối cảnh bảo mật.

Mặc dù vậy, vẫn có một số khác biệt đáng kể giữa việc roaming và DirectAccess:

* Máy khách DirectAccess luôn được quản lý. Chỉ cần được bật và được kết nối Internet, máy khách DirectAccess sẽ có kết nối với các máy chủ quản lý để cập nhật kịp thời các cấu hình bảo mật công ty.
* Máy khách DirectAccess luôn trong trạng thái phục vụ. Nếu nhóm CNTT cần kết nối đến máy khách DirectAccess nào để thực hiện một cấu hình phần mềm gì đó hoặc khắc phục sự cố vấn đề trên máy khách này thì họ sẽ không gặp bất cứ trở ngại gì vì kết nối giữa máy khách DirectAccess và trạm quản lý CNTT luôn là kết nối hai chiều.
* Máy khách DirectAccess sử dụng hai đường hầm riêng biệt để kết nối. Tuy nhiên nó chỉ có thể truy cập đến cơ sở hạ tầng cấu hình và quản lý qua đường hầm đầu tiên. Sự truy cập mạng nói chung không có sẵn cho tới khi người dùng đăng nhập và tạo đường hầm cơ sở hạ tầng.

Khi so sánh máy khách DirectAccess với máy khách VPN truy cập từ xa, bạn sẽ thấy ở máy khách DirectAccess xuất hiện ít mối đe dọa bảo mật hơn so với VPN, điều này là vì máy khách DirectAccess luôn nằm trong sự kiểm soát của nhóm CNTT công ty. Khác hẳn với các máy khách VPN, chúng có thể hoặc không kết nối với mạng công ty trong khoảng thời gian khá lâu, điều này rất dễ dẫn đến không bắt kịp cấu hình bảo mật chung và làm tăng rủi thỏa hiệp bảo mật. Thêm vào đó, các phương pháp làm giảm nhẹ như được đề cập ở trên được áp dụng cho các máy khách VPN truy cập xa cũng có thể được mang ra sử dụng với máy khách DirectAccess.

Đến đây chúng ta đã đạt được mục đích của mình là so sánh được các máy khách VPN truy cập xa qua roaming và các máy khách DirectAccess, rõ ràng tất cả những gì được minh chứng trong bài đã cho thấy máy khách DirectAccess cho thấy sự an toàn hơn trong vấn đề bảo mật chung của công ty so với việc thực hiện roaming.
Theo Quản Trị Mạng
| Copyright © 2013 Trái Đất Mũi